Hashima – “hòn đảo ma” giữa biển khơi Nhật Bản

Nhật Bản với sự đa dạng của cảnh sắc, văn hóa và ẩm thực, cùng vô vàn những yếu tố thu hút lữ khách. Trong đó phải kể đến một địa điểm nằm ngoài khơi Nagasaki, nơi từng được sử dụng làm bối cảnh cho một bộ phim của chàng “Điệp viên 007” James Bond, đó là Đảo Hashima được UNESCO công nhận là di sản thế giới với danh hiệu “di sản công nghiệp thời kỳ Meiji của Nhật Bản”. 

Hashima là một hòn đảo nhỏ nằm cách Cảng Nagasaki khoảng 20km. Đảo Hashima còn được biết dưới cái tên “Gunkanjima”, hay “Đảo Chiến hạm”, vì hình dáng tương tự như một tàu chiến khi nhìn từ xa. Hòn đảo được bao quanh bởi một bức tường chắn sóng, lấp đầy bởi các tòa nhà đổ nát, bỏ hoang – một thành phố hoàn toàn không có người ở trong hơn 40 năm.

Hòn đảo dài 480m, rộng 150m này từng là một cộng đồng thịnh vượng, đông đúc. Đặc biệt chính là khu tổ hợp Block 65 với những dãy nhà kiên cố, 317 căn hộ cùng sân chơi nhỏ trên mái nhà. Được biết, vào cuối thế kỷ thứ XIX, Hashima là nơi sinh sống của hàng ngàn phụ nữ, đàn ông và trẻ em. Dân số của Đảo Hashima đạt đỉnh vào khoảng năm 1960, khi có gần 5.300 người. Đây cũng là địa điểm có mật độ dân số cao nhất trong lịch sử được ghi nhận trên toàn thế giới. Để có thể chứa được nhiều người trong một khu vực nhỏ như vậy, mọi mảnh đất đều được bồi đắp lên, dần dần hình dạng của hòn đảo trông giống như một chiến hạm khổng lồ.

Vào đầu những năm 1900, Đảo Hashima được phát triển bởi Tập đoàn Mitsubishi để khai thác than, từ đó cũng tập trung nhiều người ở hơn nữa. Các mỏ ở đây mở cửa 24 giờ trong ngày và xoay vòng với 3 ca 8 tiếng. Làm việc ở nơi dưới mực nước biển 1.000m, những người đàn ông phải làm việc vất vả trong không gian chật chội và ngột ngạt, họ phải đi vệ sinh vào các hố nhỏ mà họ tự đào.

Để phục vụ những người thợ mỏ, các chung cư cao tầng được xây dựng lên, liên kết với nhau bằng sân, hành lang và cầu thang. Ngoài ra, nơi này còn có trường học, khu trò chơi, phòng gym, rạp chiếu phim, quán bar, nhà hàng… thậm chí có cả những ngôi chùa, đền thờ thần linh. Tất cả đều được bao bọc bởi bức tường chắn sóng bảo vệ.

Theo thời gian, Đảo Hashima ngày càng có ít ý nghĩa về kinh tế hơn. Vào cuối thập kỷ 60 của thế kỷ XX, nền kinh tế Nhật Bản bỗng nhảy vọt với sự xâm chiếm của dầu mỏ. Trữ lượng than bắt đầu cạn kiệt và dầu mỏ bắt đầu thay thế than, các mỏ than dần đi vào quên lãng, hòn đảo này đã buộc phải đóng cửa và những người sinh sống tại đây cũng rời đi. Và vào một ngày giữa tháng 4/1974, khi cư dân đảo cuối cùng lên thuyền trở về Nagasaki, Tập đoàn Mitsubishi tuyên bố đóng cửa hòn đảo Hashima, hòn đảo này chính thức bị bỏ hoang. 

Trong 3 thập kỷ bị hoang, các cơn bão kéo qua đã khiến các khu dân cư và cơ sở hạ tầng xuống cấp, tạo cho hòn đảo một bầu không khí kỳ lạ. Các căn hộ bắt đầu đổ nát, trong khoảng sân trống trải, cây cối, cỏ dại bắt đầu mọc lên. Những ô cửa kính vỡ toang, những tờ báo cũ mặc sức theo gió biển thổi bay khắp đường phố. Mọi thứ không hề bị xáo trộn gì kể từ khi cư dân rời bỏ nhà cửa, để lại từ giày dép, đồ điện tử cho đến bảng đen đầy bài giảng. Đảo Hashima hệt như một “thị trấn ma” giữa biển.

Do nguy cơ sụp đổ của các tòa kiến trúc, việc tiếp cận với Đảo Hashima từng là việc bị nghiêm cấm. Trong nhiều năm, khách du lịch tò mò chỉ có thể khám phá, nhìn ngắm hòn đảo từ các chuyến du thuyền tham quan quanh đảo. Nhưng kể từ năm 2009, các công ty du lịch đã được phép mở hoạt động đến hòn đảo này. Đặt chân lên đảo, du khách sẽ được tham quan những cầu thang hình chữ X độc đáo, nhà cửa, các máy móc làm việc… mang tính biểu tượng đặc trưng. Tuy nhiên, một số thứ như lối vào hầm mỏ, các tòa nhà chung cư đổ nát sẽ không được phép vào để đảm bảo an toàn cho khách.

Có thể thấy, Đảo Hashima không có quá nhiều hoạt động giải trí, thế nhưng nơi đây lại sở hữu khung cảnh thanh bình, vắng vẻ sẽ mang lại cho du khách những trải nghiệm khám phá độc đáo. Nếu có dịp du lịch Nhật Bản, du khách đừng quên dừng chân khám phá Đảo Hashima nhé! Chúc du khách có một hành trình đầy thú vị!

“Hòa mình” giữa thiên nhiên bao la từ Mishima Skywalk ở Nhật Bản

Rất nhiều khách du lịch khi đến Nhật Bản đều có mong muốn được một lần trải nghiệm cảm giác leo lên ngọn núi Phú Sĩ. Bên cạnh đó, cũng có không ít người lại chỉ muốn được ngắm nhìn cảnh sắc tuyệt đẹp của đỉnh núi cùng quang cảnh xung quanh, hoặc chưa có điều kiện để thực hiện một hành trình khám phá địa điểm này thì việc dạo bước trên chiếc cầu bộ hành dài nhất Nhật Bản – “Mishima Skywalk” chính là một sự lựa chọn vô cùng thú vị.

Mishima Skywalk (tên gọi chính thức: Hakone Seiroku Mishima) nằm ở thành phố Mishima thuộc tỉnh Shizuoka là cây cầu treo dành cho người đi bộ dài nhất Nhật Bản. Nó dài 400m, được xây ở độ cao 70m so với mặt đất, bắc qua một thung lũng ở rìa phía Tây Nam của Núi Hakone Caldera. Nhiều người chia sẻ trải nghiệm đi trên cây cầu này như có cảm giác như “bước giữa không trung”. Đứng trên cây cầu này, với một bên là rừng cây xanh mướt, mở ra khung cảnh của Vịnh Suruga và những ngọn núi Izu, một bên là ngọn núi Phú Sĩ sừng sững, du khách sẽ cảm thấy mình thật nhỏ bé giữa thiên nhiên bao la.

Mishima Skywalk được hoàn thành vào tháng 12/2015 sau 3 năm xây dựng với chi phí khoảng 4.000.000.000 Yên. Được biết, khi khởi công xây dựng Mishima Skywalk, việc gìn giữ hệ sinh thái nơi đây được đưa lên làm ưu tiên hàng đầu. Vô số các bước nhằm bảo vệ môi trường đã được thực hiện, ví dụ di dời một cách tỉ mỉ và cẩn thận những cây cổ thụ nằm trong vùng quy hoạch thay vì bị đốn bỏ, hay trồng mới lại 4.000 cây thuộc vùng núi cao như cây anh đào, cây lá phong. Ngoài ra, khi phải đốn hạ các cây nhỏ, đội ngũ phụ trách cũng đảm bảo các gốc cây vẫn được để lại vị trí ban đầu để chống sạt lở đất.

Mặc dù được xây ở độ cao đáng kể, Mishima Skywalk có thiết kế đạt đủ các tiêu chuẩn hàng đầu về an toàn đi bộ cho khách tham quan. Cầu có tải trọng lên đến 200kg/m2 với kết cấu vững chãi và đảm bảo tính ổn định cao. Nó có thể chịu được sức gió mạnh 65m/s và những trận động đất lớn. Vì vậy, du khách sẽ không còn cảm thấy quá sợ hãi và vững tâm hơn khi đi qua cầu.

Từ Mishima Skywalk, du khách cũng có thể chiêm ngưỡng những khung cảnh ngoạn mục của Núi Phú Sĩ, Vịnh Suruga và những ngọn núi Izu. Núi Phú Sĩ sở hữu muôn vàn sắc hoa biến đổi theo từng mùa, bao trùm lấy cảnh quan nơi đây. Nhờ đó mà cảnh vật luôn được khoác lên mình những chiếc áo mới và là điểm tham quan hấp dẫn cho cả 4 mùa. 

Thời điểm tốt nhất để có thể ngắm nhìn cảnh đẹp từ Mishima Skywalk là vào khoảng thời gian từ mùa thu đến mùa đông, khi không gian trở nên quang đãng và tầm nhìn được cải thiện hơn. Trong trường hợp muốn ngắm nhìn cảnh hoàng hôn từ trên cầu, du khách cần ghé thăm nơi đây ít nhất nửa tiếng trước khi đến giờ đóng cửa (trước 17:00).

Xung quanh Mishima Skywalk là những cụm rừng vẫn còn hoang sơ, mang trọn vẻ đẹp và hơi thở của tự nhiên mà chưa hề bị ảnh hưởng bởi bàn tay con người. Tại đây có rất nhiều loài thực vật quý hiếm hiện đang được theo dõi để bảo tồn và cấy ghép. Nếu là người yêu thích khám phá thiên nhiên, du khách có thể men theo con đường có tên gọi “Kicoro no Mori” dẫn vào các cánh rừng nguyên sơ để được chạm đến hơi thở của thiên nhiên nơi này.

Bên cạnh việc thưởng ngoạn những cảnh đẹp xung quanh cầu, khi đến đây, du khách còn có thể mua một miếng gỗ mỏng hình bầu dục, tượng trưng cho hạt giống hy vọng tại cửa hàng độc quyền ở khu vực phía Bắc, rồi đến giữa cầu để thả xuống kèm theo nguyện ước của bản thân với hy vọng chúng sẽ được nảy nở và phát triển trong cuộc sống tương lai.

Ngoài ra, vùng đất xung quanh cầu cũng được quy hoạch để xây dựng những công trình tiện ích phục vụ cho khách tham quan như: Cửa hàng Sky Garden, Quán Skycoffee, Đài quan sát, Bếp rừng và Cửa hàng lưu niệm, giúp tạo nên nhiều địa điểm thu hút hơn cho khu vực này, cũng như mang lại cho du khách những giây phút nghỉ dưỡng thoải mái.

Đến Nhật Bản, du khách không chỉ được khám phá vẻ đẹp độc đáo từ Mishima Skywalk mà còn phải kể đến các điểm du lịch nổi tiếng, khu vui chơi giải trí sôi động, điểm ăn uống hấp dẫn,… Tất cả những điều tuyệt vời này sẽ có ngay khi du khách Book Tour Nhật Bản của chúng tôi!

Nhật Bản thu phí tham quan núi Phú Sĩ kể từ mùa hè 2024

Bắt đầu từ mùa hè này (2024), khách du lịch đến núi Phú Sĩ sẽ phải trả một khoản phí trước khi đặt chân vào một trong những tuyến đường chính dẫn lên ngọn núi mang tính biểu tượng này.

Núi Phú Sĩ đã chứng kiến ​​sự bùng nổ về số lượng khách kéo theo những lo ngại về rác thải và sự an toàn của những người đi bộ đường dài. Theo Chính phủ Nhật Bản, đường mòn Yoshida đã chứng kiến ​​”số lượng chưa từng có” những vị khách leo núi vào năm 2023 và đang chuẩn bị đón lượng du khách tương tự trong năm nay.

Theo đó, vào năm 2023, tổng cộng đã có tới 221.322 người leo lên núi Phú Sĩ, trong đó hơn một nửa chọn sử dụng đường mòn Yoshida. Lượng khách tăng đột biến đã dẫn đến việc tích tụ rác thải dọc đường mòn cũng như ùn tắc giao thông dẫn đến tai nạn và thương tích. Cũng có những lo ngại về những người đi bộ thiếu kinh nghiệm cố gắng đi theo con đường mòn và gặp khó khăn khi ở gần đỉnh núi, nơi có ít cơ sở vật chất hơn.

Để giúp làm sạch ngọn núi và bảo vệ môi trường, chính quyền Nhật Bản đã đưa ra một khoản phí và giới hạn số lượng khách hàng ngày dọc theo con đường mòn phổ biến nhất. Các biện pháp sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2024.

Chính quyền tỉnh Yamanashi, cơ quan giám sát các hoạt động đi bộ đường dài tại Di sản Thế giới được UNESCO công nhận này, cho rằng cần phải đưa ra các mức phí để bảo vệ môi trường. Họ cũng đang thực hiện giới hạn hàng ngày về số lượng người được phép leo núi qua đường mòn Yoshida để giảm bớt tắc nghẽn.

Người đi bộ đường dài sẽ bị giới hạn ở mức 4.000 người mỗi ngày kể từ ngày 1/7/2024, thời điểm đánh dấu sự khởi đầu của mùa leo núi mùa hè kéo dài 70 ngày. Những người leo núi cũng sẽ bị cấm leo núi trong khoảng thời gian từ 16:00 giờ đến 2:00 sáng hôm sau.

Vậy chi phí để leo núi Phú Sĩ là bao nhiêu? Các quan chức vẫn chưa tiết lộ mức phí sẽ là bao nhiêu nhưng cho biết số tiền này sẽ được công bố trong tháng 2. Họ cũng có kế hoạch lắp đặt một cổng ở lối vào đường mòn Yoshida để thu phí.

Các nhà chức trách cho biết số tiền thu được sẽ được sử dụng để xây dựng những nơi trú ẩn dọc theo con đường để sử dụng trong trường hợp núi lửa phun trào và duy trì tuyến đường đi bộ đường dài .

Kể từ năm 2014, những người leo núi lên núi qua bất kỳ con đường mòn nào ở đây đã được khuyến khích tự nguyện trả 1.000 Yên/người để bảo tồn. Các nhà chức trách cho biết số tiền thu được sẽ được sử dụng để xây dựng những nơi trú ẩn dọc theo con đường để sử dụng trong trường hợp núi lửa phun trào và duy trì tuyến đường đi bộ đường dài./.

Đảo Aoshima – “Thánh địa” mèo lớn nhất Nhật Bản

Nếu du khách là người yêu mèo đến mức “phát cuồng” thì chắc hẳn du khách đã từng mơ về một “thiên đường” – nơi những chú mèo được tự do tung tăng khắp mọi ngõ ngách và chẳng phải bận tâm chuyện “thế sự” của loài người. Vậy hãy cùng xách ba lô lên và để chúng tôi dẫn du khách đến với “Thánh địa” mèo lớn nhất Nhật Bản – Đảo Aoshima.

Đảo Aoshima dài chưa đến 2km ngoài khơi Nhật Bản từ lâu đã trở thành điểm đến trong mơ của những người “cuồng” mèo. Hòn đảo này nằm cách thị trấn Nagahama thuộc thành phố Ozu của tỉnh Ehime 13,5km về phía Bắc. Đảo có cảnh quan thiên nhiên được bảo tồn gần như nguyên vẹn với những bãi cát trắng bao quanh bốn bề và đi sâu vào phía trong du khách sẽ được hòa mình vào màu xanh thanh mát của khu rừng cận nhiệt đới.

Được biết, Đảo Aoshima từng là một làng chài trù phú với số dân lên đến gần 1.000 người vào năm 1945. Thời gian trôi đi, số lượng dân cư trên đảo giảm dần. Năm 1985, dân số đã giảm xuống dưới 100 người khi ngày càng nhiều người trẻ rời khỏi đảo để tới các thành phố trên đất liền tìm kế sinh nhai. Đến năm 2019, chỉ còn 6 cư dân sinh sống ở đảo; trong khi đó có khoảng 200 chú mèo. Với số lượng “cư dân bốn chân” hơn hẳn số người sinh sống, người dân và du khách đã gọi nơi đây là “Đảo mèo”.

Ban đầu, một vài con mèo được đưa lên đảo để bắt chuột trong khu cảng đầy tàu thuyền chở cá. Sống giữa kho thức ăn khổng lồ, không có thiên địch và được người dân chăm sóc tận tình, những chú mèo lớn dần, các lứa mèo con lần lượt ra đời và trưởng thành. Tốc độ sinh sôi của mèo nhanh chóng tăng lên cùng với sự dịch chuyển dân số khiến “cư dân bốn chân” áp đảo, rồi “chiếm cứ” cả hòn đảo. Để kiểm soát số lượng mèo, giới chức đã cho triệt sản một số con.

Vào năm 2013, số lượng khách du lịch từ khắp nơi đến Đảo Aoshima bắt đầu tăng sau khi những bức ảnh chụp những chú mèo sống trên đảo của một nhiếp ảnh gia nổi tiếng được giới thiệu trên TV.

Nằm ở giữa biển, nên phương tiện duy nhất để đến Đảo Aoshima là chuyến phà xuất phát từ Cảng Nagahama. Hai chuyến khứ hồi khởi hành đều đặn mỗi ngày. Ngay khi đặt chân lên đảo, du khách sẽ được chào đón bởi hàng chục “hướng dẫn viên bốn chân” với đủ màu sắc đa dạng. Dù sống hoang dã, song nhờ tiếp xúc thường xuyên với người dân, khách du lịch và các tình nguyện viên nên chúng rất thân thiện và quấn người. Thậm chí, nhiều chú mèo còn biết làm nũng xin ăn. Trước những ánh mắt tròn xoe ấy, không ít vị khách cho biết chỉ muốn ôm, chụp hình và cho mèo ăn ngay tại cảng. Chúng cũng không “kén cá chọn canh”, mà chỉ cần ăn cơm, khoai tây chiên hay kẹo bánh từ khách.

Lang thang trên đảo, du khách sẽ thấy có rất nhiều ngôi nhà bỏ hoang, nhân chứng của một thời kỳ trong quá khứ khi con người còn sinh sống khá nhiều. Hiện nay những căn nhà này tuy không còn chủ nhân nhưng cũng chẳng ai nỡ phá bỏ vì chúng đã trở thành “tổ ấm” cho những chú mèo trú ẩn. Hầu hết những chú mèo trên đảo đều có màu lông na ná như nhau là vàng cam hoặc xám, bên cạnh đó còn một đặc điểm ngoại hình rất dễ nhận ra là chú nào chú nấy đều béo tốt mập mạp vì được người dân cũng như khách du lịch cho ăn nhiệt tình!

Việc ôm, chụp hình và chơi đùa với mèo được cho phép tại đảo nhưng nếu du khách cho mèo ăn tại cảng hay vị trí bất kỳ trên đảo, thì không chỉ làm phiền người dân mà còn không tập cho chúng thói quen và sự kỷ luật. Nên dù có “xiêu lòng” trước hàng chục ánh mắt trông mong, du khách cũng nên di chuyển theo các bảng hướng dẫn, đến khu vực được chỉ định cho mèo ăn. Khi cho mèo ăn, du khách cũng nên đặt hẳn thức ăn xuống đất, không nên cầm trên tay cho ăn trực tiếp nhằm để phòng một số chú mèo khi lấy thức ăn cắn phải nhé!

Du khách có thể dạo quanh làng chài ngắm các “cư dân bốn chân” thoải mái làm điều mà chúng thích từ nằm lăn giữa đường, phơi nắng trên mái nhà… mà không lo sợ ai làm phiền hay đe dọa. Du khách cũng có thể chọn vừa thư giãn gần bến cảng, ngắm mặt biển lấp lánh ánh nắng hay những chú mèo đang thong thả đi bộ dọc bờ biển hoặc lim dim phơi mình trên một mỏm đá gần đó.

Trên đảo không có những dịch vụ lưu trú, nhà hàng, tạp hóa hay máy bán hàng tự động… thường thấy, bởi vậy, khách thường về lại đất liền vào cuối ngày. Tuy Aoshima không phải là một địa danh du lịch nhưng đang dần dần trở nên cuốn hút với cộng đồng những người yêu mèo vì nơi đây thực sự mang lại cảm giác thư giãn cho những vị khách mỗi khi họ đến đảo và ngắm những chú mèo nô đùa.

“Thiên đường mèo” Aoshima đang đợi du khách đến để cùng chơi đùa với nhau đấy! Hãy Book Tour Nhật Bản và cùng chúng tôi có nhiều trải nghiệm thú vị nhé!

Đảo Aogashima – “Thiên đường giữa biển khơi” ở Nhật Bản

Nằm cách Tokyo 35km về phía Nam và được bao quanh bởi vùng biển Philippines là hòn đảo mang tên “Aogashima”, thuộc quần đảo Izu của Nhật Bản. Cho tới ngày nay, mặc dù vẫn còn tiềm ẩn mối nguy từ hoạt động núi lửa, nhưng hơn 200 cư dân ở Đảo Aogashima vẫn duy trì việc sinh sống lâu dài tại đây.

Aogashima chỉ rộng khoảng 2,5km và dài 3,4km, nằm lọt thỏm trong miệng núi lửa và bao quanh bởi những vách đá gồ ghề của lớp trầm tích núi lửa rất dốc. Aogashima được cho là kết quả của sự hình thành từ các tàn tích chồng lên nhau của ít nhất 4 miệng núi lửa dưới lòng đất. Quan trọng hơn, bên trong hòn đảo này là Maruyama, một núi lửa hình nón nhỏ hơn hiện tại vẫn được coi là đang hoạt động.

Bờ biển phía Nam nổi lên một ngọn núi dốc đứng có tên gọi “Ikenosawa”. Đỉnh Otonbu với độ cao 432m so với mực nước biển là vị trí cao nhất trên đảo. Khi đặt chân lên đây, du khách sẽ có cái nhìn toàn cảnh về hòn đảo này cũng như không gian bao la của Thái Bình Dương.

Đảo Aogashima sở hữu những cảnh quan nhiệt đới, cùng hệ động thực vật phong phú khiến nhiều người ngỡ ngàng khi lần đầu chiêm ngưỡng. Với khí hậu ôn hòa, ẩm ướt do ảnh hưởng của dòng hải lưu biển, vì thế Đảo Aogashima cũng là nhà của nhiều loài chim hoang dã khác nhau trên đường đi trú đông. Cuộc sống tại đây vô cùng trong lành, yên bình tựa như đang được hòa mình vào thiên nhiên.

Mang trên mình vẻ đẹp hoang sơ, yên bình là thế nhưng ít ai biết rằng Đảo Aogashima lại được Cơ quan Khí tượng Nhật Bản xếp vào loại núi lửa hạng C. Lần phun trào lớn cuối cùng tại hòn đảo này được ghi nhận là vào khoảng năm 1781-1785, khiến 170 trên tổng số 327 cư dân đảo bị thiệt mạng và nhiều người sống sót sợ hãi trốn chạy khỏi đảo.

Phải mất gần 50 năm để nơi đây được phục hồi hoàn toàn, trước khi một số cư dân quyết định quay trở lại sinh sống trên hòn đảo xinh đẹp này. Cho tới ngày nay, mặc dù vẫn còn tiềm ẩn mối nguy từ hoạt động núi lửa, tuy nhiên cư dân của Aogashima vẫn duy trì việc sinh sống lâu dài tại đây.

Những người dân sinh sống trên đảo tự sản xuất nông nghiệp, đánh bắt cá và mở một số dịch vụ để phục vụ khách du lịch. Họ cùng nhau xây dựng một thị trấn nhỏ bên trong những vách đá dựng đứng của miệng núi lửa với khá đầy đủ mọi tiện nghi sinh hoạt. Trên đảo có trường học, bưu điện, phòng tắm hơi địa nhiệt, khu cắm trại, nhà hàng và quán xá,… Tất cả hàng hóa sẽ được đưa đến đảo bằng đường tàu biển.

Được biết, cuộc sống của người dân trên đảo phụ thuộc nhiều vào nguồn địa nhiệt từ núi lửa đang hoạt động. Họ tận dụng nguồn nhiệt này để nấu ăn và sưởi ấm.

Do địa hình hiểm trở, Aogashima là một hòn đảo hiếm khi được ghé thăm. Những vách đá dựng đứng gồ ghề của trầm tích núi lửa nhiều lớp bao quanh toàn bộ hòn đảo, nơi đây cũng không có nhiều bến cảng để neo đậu tàu thuyền. Theo đó, du khách chỉ có thể lên đảo bằng trực thăng từ hòn đảo láng giềng Hachijojima cách đó 60km, và mỗi chuyến bay chỉ chở tối đa 9 người. Việc di chuyển bằng trực thăng ra tham quan đảo cũng phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết nơi đây, vì những ngày sương mù dày đặc các chuyến trực thăng lên đảo sẽ buộc phải hủy bỏ.

Khi đã đặt chân lên đảo, du khách có thể tham quan nhà máy sản xuất muối Hingya nằm ven rìa miệng núi lửa Maruyama. Đây là loại muối cao cấp được sử dụng chế biến một số món ăn Nhật. Du khách có thể tham quan quy trình tạo nên sản phẩm muối chất lượng cao này từ nước biển Kuroshio giàu khoáng chất và canxi, quá trình kết tinh trải qua nhiều tuần nhờ làn khói hơi bốc ra từ miệng núi lửa…

Thưởng thức rượu Shochu (dân địa phương gọi là Aochu) cũng là điều không thể bỏ qua. Không ít người khẳng định rượu Shochu được chưng cất từ khoai lang, lúa mì trên đảo có hương vị khác biệt và mang lại nhiều cảm giác hơn cho thực khách.

Trong một vài ngày thăm Đảo Aogashima, du khách có thể khám phá những con đường mòn hay thế giới kỳ ảo dưới làn nước màu ngọc lam. Và để tận hưởng hương vị núi lửa, du khách có thể thư giãn tại một phòng tắm hơi với nguồn nước nóng đầy khoáng chất có lợi cho sức khỏe hay phòng tắm hơi địa nhiệt Fureai Community Spa được cung cấp bởi khói núi lửa nằm ở trung tâm đảo. Du khách cũng nên trải nghiệm việc nấu bữa trưa bằng hệ thống nấu bằng năng lượng núi lửa được thiết kế tại khu cắm trại…

Có thể thấy, Đảo Aogashima không có quá nhiều hoạt động giải trí, thế nhưng nơi đây lại sở hữu khung cảnh thanh bình, vắng vẻ và gần như biệt lập với đất liền sẽ luôn mang lại cho du khách những phút giây sảng khoái, thư thái trong tâm hồn. Nếu có dịp du lịch Nhật Bản, du khách đừng quên dừng chân khám phá “Thiên đường giữa biển khơi” Aogashima nhé! Chúc du khách có một hành trình đầy thú vị!

5 đền chùa tâm linh nổi tiếng nhất của tỉnh Aichi, Nhật Bản

Tỉnh Aichi ở Nhật Bản là quê hương của rất nhiều tướng lĩnh thời Chiến quốc. Nhiều địa điểm gắn liền với các vị tướng như Lâu đài Nagoya được xây dựng bởi Ieyasu vẫn còn tồn tại đến ngày nay, và du khách có thể cảm nhận những chứng tích sống về sự tồn tại của họ ở khắp mọi nơi. Bên cạnh đó, tỉnh Aichi còn sở hữu số lượng lớn các đền chùa xưa gắn liền với những truyền thuyết tâm linh lâu đời, được nhiều khách viếng thăm để cầu may mắn, bình an.

1 – Đền Toyokawa Inari

Toyokawa Inari được biết đến là một ngôi đền cầu kinh doanh thịnh vượng, gia đình bình an, phúc lộc dồi dào. Được thành lập bởi nhà sư Tokai Geki vào năm 1441, Toyokawa Inari là một trong 3 ngôi đền thờ thần Inari Okami lớn nhất Nhật Bản. Inari Okami – Vị thần của nông nghiệp, mùa màng, thương mại, và các ngành nghề liên quan đến nông nghiệp. Thần Inari thường được tưởng tượng là một con cáo hoặc một người phụ nữ mang một bó lúa mì trên tay.

Toyokawa Inari được xây dựng theo thiết kế kiến trúc truyền thống Nhật Bản và có nhiều khuôn viên và tòa nhà độc đáo. Nổi bật trong chùa là cổng chào đón rực rỡ và hành lang đầy tượng cáo đỏ, tượng trưng cho thần Inari. Các tượng cáo được đặt tại đây như biểu tượng của sự may mắn và thành công.

Sau khi tham quan điện thờ chính thì Đồi cáo (Reiko-zuka) là địa điểm linh thiêng không thể bỏ qua khi ghé thăm Toyokawa Inari. Reiko-zuka nằm ngoài lối đi chính của Đền. Tại đây, du khách sẽ thấy một khung cảnh cực kỳ ấn tượng với những hàng trải dọc khoảng 1.000 tượng cáo đá, mỗi con cáo đại diện cho những nguyện vọng đã được ước nguyện thành công tại đền. Khu vực này được gọi là nơi hội tụ của những nguyện vọng đã thành hiện thực, một nơi linh thiêng thu hút nhiều người đến để cầu may mắn.

Bên ngoài ngôi đền này, có một thị trấn sôi động với nhiều quán ăn và cửa hàng lưu niệm hấp dẫn. Một trong những món ăn đặc trưng, không thể bỏ qua ở đây là Toyokawa Inarizushi. Đây là một loại Sushi có phần cơm được gói bên trong lớp vỏ đậu phụ tẩm vị giòn tan. Món Sushi này xuất phát từ truyền thống dâng cơm vào “abura-age” để tôn vinh thần Inari, vị thần cáo linh thiêng. Ngày nay, Toyokawa Inarizushi đã được biến tấu với nhiều phong cách mới, chẳng hạn như Sushi phủ thịt lợn Miso hay lươn nướng.

2 – Đền Atsuta Jingu

Được xây dựng cách đây hơn 1.900 năm, Atsuta Jingu (hay: “Atsuta-san”) là một ngôi đền linh thiêng vô cùng nổi tiếng ở Nhật Bản. Mỗi năm, nơi đây thu hút khoảng 7 triệu lượt khách từ khắp nơi trên thế giới đổ về để cầu tài lộc may mắn.

Atsuta Jingu trấn tọa bên trong khu rừng Atsuta no Mori, phía Nam thành phố Nagoya. Khi bước vào bên trong Đền, du khách dường như bị choáng ngợp trước khuôn viên rộng tới 190.000m2 với những cây long não hơn 1.000 tuổi mọc sum suê. Bước chậm rãi trong khuôn viên xanh mát rộng lớn của ngôi đền sẽ phần nào giúp du khách cảm thấy sự thư thái, bình yên trong tâm hồn.

Phía trong và ngoài khuôn khổ của Đền Atsuta-jingu có tới 43 điện thờ chính, phụ khác nhau. Chỉ tính riêng các nghi thức chính tại đây hàng năm có tới hơn 70 sự kiện được tổ chức. Bên cạnh đó, phía trong Bảo tàng bảo vật của Đền có tới 6.000 vật trong đó có nhiều đồ là báu vật quốc gia cũng như tài sản văn hóa quan trọng. Đặc biệt, Atsuta Jingu nổi tiếng là nơi thờ cúng thanh gươm Kusanagi no Tsurugi được Nữ thần Mặt trời Amaterasu trao cho thần Ninigi, tổ tiên của dòng dõi Hoàng gia Nhật Bản khi ông được cử xuống hạ giới để bình định nước Nhật. Đây là một trong ba bảo vật linh thiêng, hay còn được biết với tên gọi “Tam chủng thần khí”, được lưu truyền qua các thế hệ Nhật hoàng.

Nữ giới rất yêu thích ngôi đền này bởi vì tại khuôn viên của Atsuta-jingu có Đền Shimizu-sha là nơi có thờ vị thần của Mắt và vị thần của Làn da đẹp. Tương truyền chỉ cần thoa nước lên da 3 lần thì da sẽ trở nên đẹp hơn và nước chạm vào mắt thì mắt sẽ trở nên rõ ràng hơn. Chính vì vậy, những chị em mong muốn mình trở nên đẹp hơn thường tới thăm viếng Đền khá đông.

3 – Chùa Osu Kannon

Osu Kannon là một ngôi chùa đẹp và nổi tiếng nằm ở trung tâm Nagoya của tỉnh Aichi. Được biết đến với tên gọi chính thức là “Kitano-san Shinpuku-ji Hōshō-in”, ngôi chùa là địa điểm tâm linh thu hút khách du lịch cũng như những người sùng bái tôn giáo.

Osu Kannon thuộc phái Shingon (có dòng truyền thừa trực tiếp từ Trung Quốc và bắt nguồn ở Ấn Độ.) Đúng như tên gọi của ngôi chùa, vị thần được thờ phụng chính ở đây là Phật Quan Âm, đức Phật của lòng nhân ái, lòng từ bi và cứu khổ cứu nạn (còn được gọi là Kanzeon-Bosatsu, hay Avalokiteśvara), người thường được miêu tả với nét mặt dịu dàng. Trong chùa có một pho tượng Quan Âm lớn bằng gỗ được chạm khắc bởi Kobo Daishi, vị sư sáng lập phái Shingon của Phật giáo. Ngôi chùa là một trong “33 chùa Quan Âm Owari”, tập hợp những ngôi chùa thờ Phật Quan Âm ở khu vực này.

Bên trong chính điện của ngôi chùa, du khách có thể nhìn thấy một chiếc lồng đèn giấy lớn màu đỏ. Những người hành hương tới ngôi chùa viết điều ước trên những mảnh giấy nhỏ và gắn vào dây đỡ chiếc lồng đèn lớn với hi vọng được Phật Quan Âm chứng nhận. Phía dưới chính điện là kho sách Shinpukuji với hơn 15.000 văn thư cổ điển của Nhật Bản và Trung Quốc cũng như rất nhiều đồ vật linh thiêng được coi là “báu vật quốc gia” và “di sản văn hóa quan trọng”. Trong số đó là bản sao cổ nhất của Kojiki, một ghi chép biên niên tập hợp các thần thoại về nguồn gốc của đảo Nhật Bản cũng như Kami, hay thần Shinto.

4 – Đền Momotaro

Thành phố Inuyama thuộc tỉnh Aichi nổi tiếng với Lâu đài Inuyama và dòng sông Kiso. Đền Momotaro nằm cách Lâu đài Inuyama dọc theo sông Kiso khoảng 3km. Vì có nguồn gốc từ truyền thuyết về Momotaro được sinh ra từ một quả đào khổng lồ, Đền Momotaro trở thành một địa điểm linh thiêng cầu sức khỏe cho trẻ em.

Ngay khi bước vào Đền Momotaro, du khách không khỏi ấn tượng với cổng Torii hình quả đào hiếm thấy ở Nhật Bản. Bên trong ngôi Đền, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những tác phẩm điêu khắc đầy màu sắc của các nhân vật trong truyện cổ tích Momotaro như người mẹ, con khỉ, con chó, chim trĩ… Các bức tượng được tạo ra bởi nhà điêu khắc Shoun Asano quá cố.

5 – Đền Koinomizu

Koinomizu là một ngôi đền cầu duyên cực kỳ nổi tiếng đối với giới trẻ Nhật Bản, được cho mang đến hiệu quả trong việc chữa “bệnh tương tư”. Vì là ngôi đền thờ nữ thần nước nên cổng Torii ở đây có màu xanh dương nhạt.

Đền Koinomizu có nguồn gốc từ truyền thuyết về Thiên hoàng Ingyou, người sau khi được thần núi Miwa ở tỉnh Yamato (nay là tỉnh Nara) mách bảo rằng có một dòng nước thần giúp chữa bách bệnh, kéo dài tuổi thọ, đã lên đường tìm kiếm và mang được nước về để chữa trị cho hoàng hậu. Vào thời Heian, một giai thoại khác được lưu truyền về nàng Sakurahime, người đã đến thăm vùng đất này để tìm nguồn nước giúp chữa lành bệnh của người mình yêu, nhưng không may đã trút hơi thở cuối cùng trước khi tiếp cận được nguồn nước. Ban đầu, nguồn nước Koinomizu được tôn sùng vì có thể chữa được bách bệnh, nhưng về sau nó được cho là có hiệu quả trong việc trị “bệnh tương tư” nên ngôi đền đã trở nên nổi tiếng với tư cách là nơi thờ vị thần hôn nhân.

Người ta nói rằng nếu lấy nguồn nước ở Đền rồi viết điều ước lên cốc giấy thì điều ước sẽ thành hiện thực. Với cốc giấy giá 200 Yên, du khách cho nước Koinomizu đã mua vào khoảng 1/2 cốc giấy rồi dâng lên bàn thờ thần.

Tỉnh Aichi có rất nhiều điểm du lịch tâm linh, nơi du khách có thể cầu xin may mắn về tình duyên, sức khỏe, tài lộc đến đường con cái. Những địa điểm trên còn sở hữu thiên nhiên xinh đẹp, ẩm thực phong phú, biến chúng thành điểm dừng chân mà du khách không nên bỏ lỡ khi có dịp du lịch Nhật Bản.

Koorogi Shoyu – Nước tương làm từ loài dế độc đáo tại tỉnh Aichi, Nhật Bản

Tỉnh Aichi của Nhật Bản nổi tiếng với nền ẩm thực đa dạng và phong phú được gọi là “Nagoya Meshi”, trong đó, tương đỏ Hatcho Miso làm hoàn toàn từ đậu nành được xem như “trái tim” của Nagoya Meshi. Gần đây, một nhà sản xuất tương Miso lâu năm tại Aichi đã gây ấn tượng mạnh với ý tưởng chế biến Miso và nước tương từ dế với tên gọi “Koorogi Shoyu”, làm đa dạng thêm nền ẩm thực nơi đây.

Được thành lập vào năm 1928, nhà sản xuất tương Miso – “Noda Miso Shoten” tại tỉnh Aichi nổi tiếng với việc sản xuất Miso bằng bồn gỗ truyền thống với sản lượng đến 2.000 tấn/năm. Không dừng lại ở đó, Noda Miso Shoten đã bắt đầu lên kế hoạch sản xuất Miso từ dế và châu chấu vào năm 2017.

Ý tưởng này xuất phát từ thắc mắc của một học viên trong lớp học dạy làm Miso của chủ tịch đời thứ 4 Noda Yoshinari, 36 tuổi. Cách đây 6 năm, Noda Yoshinari đã mở các lớp dạy làm Miso và nhận được câu hỏi từ một học viên rằng liệu có thể tạo ra Miso từ côn trùng. Là một người đam mê du lịch và cũng đã thử nhiều loại côn trùng ở nước ngoài, anh nhận thấy chúng rất giàu protein, giống với đậu nành – nguyên liệu chính của Hatcho Miso. Việc ăn côn trùng được xem như một giải pháp cho tình trạng thiếu lương thực ở một số nơi trên thế giới. Vì vậy, anh bắt đầu nghiên cứu sản xuất Miso từ dế và châu chấu từ năm 2017.

Năm 2019, Noda Yoshinari đã giới thiệu tương Miso từ côn trùng tại một sự kiện dành cho các doanh nhân trẻ. Tại đây, anh đã gặp người của nhà hàng Antcicada tại quận Chuo, Tokyo nổi tiếng với món Ramen dế. Trước đó, nhà hàng này cũng đã tính đến việc tạo ra nước tương từ dế nên họ đã đề nghị hợp tác cùng Noda Yoshinari trong việc nghiên cứu và sản xuất loại nước tương mới.

Sau quá trình nghiên cứu, thử nghiệm, bắt đầu từ tháng 1/2020, kế hoạch đưa nước tương dế ra mắt thị trường được chuẩn bị và vào tháng 9/2020, lô sản phẩm đầu tiên chính thức được giới thiệu đến người tiêu dùng với tên gọi “Koorogi Shoyu”.

Để làm ra một chai Koorogi Shoyu 100ml cần 480 con dế và giá đã bao gồm thuế của sản phẩm là 1.640 Yên (khoảng 340.000 VND), cao gấp 10 đến 20 lần so với nước tương làm từ đậu nành. Tuy nhiên, nếu việc tiêu thụ côn trùng tăng dẫn đến sản lượng dế tăng theo, giá thành sản phẩm này có thể được hạ xuống.

Nước tương Koorogi Shoyu có vị mặn và thơm nồng. Dế được sử dụng là loại mang lại hương vị tinh tế, nhẹ nhàng, được cung cấp bởi công ty Gurirasu Co., Ltd. tại tỉnh Tokushima và Taiyo Green Energy Co., Ltd. ở tỉnh Saitama. Dế được nghiền thành bột, xử lý bằng men Koji và muối trong những thùng gỗ tại Noda Miso Shoten, hoàn toàn không sử dụng đậu nành trong quá trình sản xuất để tạo nên dòng nước tương khác biệt.

Koorogi Shoyu sẽ phù hợp khi dùng chung với Sashimi các loại cá thịt trắng và các món khác mà không làm mất đi hương vị nhẹ, tinh tế của nước tương. Nó cũng thích hợp khi dùng chung với món cơm nắm nướng hay bánh Dango rưới nước tương.

Nếu có dịp du lịch Nhật Bản, du khách đừng bỏ lỡ cơ hội thử qua hương vị độc đáo của Koorogi Shoyu nhé! Hẳn đây cũng sẽ là một trải nghiệm thú vị mà du khách khó lòng quên được trong hành trình khám phá “xứ sở mặt trời mọc” của mình.

Những quả trứng cá nhỏ trong ẩm thực Nhật Bản

Nếu đã từng thử qua món Sushi hoặc Sashimi, chắc chắn du khách sẽ thấy quen thuộc với những loại trứng cá. Do màu sắc rực rỡ và kết cấu giòn nên trứng cá thường được dùng làm vật trang trí cho các món ăn. Có nhiều loại trứng cá thường được sử dụng trong ẩm thực Nhật Bản, bao gồm: Masago, Tobiko, Ikura, Kazunoko, Mentaiko,… 

1 – Ikura

Ikura có màu cam được lấy ra từ bụng của Cá Hồi, sau đó đem ướp với muối hoặc nước muối để bảo quản. Mọi quy trình từ đánh bắt, sơ chế, tách trứng đến đóng hộp đều đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, sau đó được cấp đông theo theo điều kiện xuất khẩu để đảm bảo hương vị của trứng cá khi rã đông vẫn thơm và ngon. Ikura có màu cam tươi, hình tròn bóng. Khi còn tươi ăn trứng có ít vị mặn, giòn sựt, không tanh.

Cũng như các dòng trứng cá khác, Ikura được lấy ra từ bầu trứng trước khi chúng sinh nở, trứng có kích thước lớn và phát triển tốt nhất. Phần Cá Hồi còn lại sẽ được chế biến trong suốt thời gian đó, Ikura được bảo quản cẩn thận và từ những dải trứng cá được sàng lọc thành từng quả trứng nhỏ.

Đối với Ikura truyền thống, sau khi lấy trứng cá ra, người ta thường ướp với muối hoặc bảo quản trong nước muối rồi mới dùng cho các món ăn, nhiều nơi ở Nhật Bản, họ ăn Ikura tươi ngay khi lấy ra từ bụng cá. Ikura còn là nguyên liệu “khét tiếng” với món Sashimi hay Sushi, vì khi ăn cách này sẽ cảm nhận trọn vẹn hương vị nguyên bản của trứng cá. Không nên chế biến với nhiệt độ cao vì khi đó trứng bị vỡ mất đi hương vị và dưỡng chất.

Ngoài những món ăn phổ biến như Sushi, Sashimi,… Ikura cũng có thể trộn cùng cơm nóng ăn trực tiếp; hay phết lên bánh mì, trang trí hải sản và ăn kèm với thịt cá sống, hoặc ăn kèm hàu sữa chấm mù tạt. Một số món ăn khác như: Cơm rang Ikura, bánh bao nhân Ikura, súp Ikura,…

2 – Tobiko

“Tobiko” là thuật ngữ tiếng Nhật chỉ trứng cá được thu hoạch từ Cá Chuồn (thuộc họ Exocoetidae), chẳng hạn như Cá Chuồn Nhật Bản (Chilopogon Agoo). Vì loại cá này sống chủ yếu ở vùng nước ấm nhiệt đới nên Tobiko tự nhiên có màu từ đỏ đến cam rực rỡ và cực kỳ tươi sáng. Trên thị trường, Tobiko thường được bán với các màu nhuộm như: đen (pha mực), vàng (lấy màu từ Yuzu), xanh (vị Wasabi) và đỏ (củ cải đường).

Tobiko có kích thước nhỏ từ 0,5 – 0,8mm, có vị hơi ngọt xen lẫn vị mặn. Trứng cá chuồn có kết cấu giòn khi nhai và được dùng để trang trí bên ngoài nhiều loại Maki, được bọc trong Nori cho món Nigiri hoặc làm điểm nhấn cho món Sashimi hoặc Donburi.

Tobiko không chỉ vỏn vẹn trong món Sushi, Sashimi hay Nigiri mà du khách biết, nhiều nơi sử dụng chúng để biến tấu thành món mới từ trong nhà hàng cho đến món ăn đường phố, hay sự kết hợp giữa hương vị Âu – Á vô cùng phong phú, có thể thấy xu hướng ẩm thực sử dụng Tobiko ngày càng đa dạng. Với Tobiko, người Nhật thường ăn cơm cùng với một quả trứng sống, một ít trứng cá chuồn và rau thơm rắc bên trên, món ăn sẽ được dùng chung với nước tương pha dầu oliu. Hoặc một phiên bản khác thường gặp là ăn cơm cùng Natto – một món đậu tương nguyên hạt lên men cùng với Tobiko và một nhúm rong biển vụn.

3 – Masago

Masago có màu cam nhạt và thường bị nhầm với trứng Cá Chuồn (Tobiko), nhưng Masago lại có kích thước nhỏ hơn một chút. Masago có vị mặn ngọt, đôi lúc hơi có vị đắng, tuy nhiên kết cấu thì không giòn bằng Tobiko. Masago có hương vị thơm ngon mà không quá tanh, đó là lý do nó được sử dụng rộng rãi trong việc trang trí Sushi và các món ăn khác.

Masago được ngư dân thu hoạch từ các thành viên của họ Cá Osmeridae, chẳng hạn như Cá Capelin (Cá Ốt). Cá Capelin là một loại cá nhỏ làm thức ăn gia súc có kích thước bằng Cá Mòi, được tìm thấy ở Bắc Đại Tây Dương, Bắc Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương.

Ở Nhật Bản, Masago thường có nguồn gốc từ Shishamo (Spirinchus lanceolatus), một loài cá có nguồn gốc từ đảo Hokkaido. Trứng cá ngay sau khi thu hoạch có màu cam nhạt, do đó cần phải được nhuộm hoặc ướp trước khi phân phối trên toàn thế giới. Sự xuất hiện phổ biến của Masago là màu cam sáng, đen và đỏ.

Giống như Tobiko, các đầu bếp sử dụng Masago làm vật trang trí cho món California Sushi và các món cơm khác. Nó cũng là thành phần chính của nước sốt kem Masago.

4 – Kazunoko

Được biết vào những ngày đầu năm mới, người Nhật thường chuẩn bị món trứng Cá Trích (Kazunoko) trong những bữa ăn của mình. Không những vậy, nó còn là một trong những món rất được ưa thích và hầu như xuất hiện quanh năm ở các nhà hàng Sushi, Sashimi ở Nhật Bản.

“Kazunoko” trong tiếng Nhật mang nghĩa “nhiều con”, là biểu tượng cho sự sinh sản và gia đình thịnh vượng. Một túi trứng của Cá Trích có thể chứa hơn 100.000 trứng cá. Do đó món ngon này đã trở thành biểu tượng của việc có nhiều con cái, đồng thời cũng là món ăn mang tinh thần cầu may mắn, bình an và sự sung túc trong gia đình trong suốt 1 năm.

Kazunoko có màu vàng và được thu hoạch từ dạ con của Cá Trích hoặc trên Kombu – một loại tảo biển mà loài Cá Trích thích đẻ trứng lên trên. Trứng cá rất nhỏ và giòn giống như Tobiko. Sau khi thu hoạch, người ta sẽ ngâm trứng vào nước muối rồi rửa sạch và đông lạnh, chính vì thế chúng sẽ tạo thành hình khối trông khá giống với múi bưởi. Một vài cách chế biến khác của Kazunoko là ngâm với một số loại gia vị đặc trưng Nhật Bản như: nước tương, Dashi, Sake và Mirin.

5 – Mentaiko

Mentaiko là loại trứng Cá Tuyết đặc trưng của vùng đất Nhật Bản. Đây là nguyên liệu không chỉ mang đến hương vị đặc trưng và thơm ngon cho món ăn mà còn là nguyên liệu chứa hàm lượng chất dinh dưỡng cực kỳ tốt cho sức khỏe con người.

Mentaiko sẽ gây “ấn tượng mạnh” với khách nước ngoài bởi màu sắc, hình dáng và cả hương vị độc đáo. Đặc trưng của Mentaiko chính là màu sắc đỏ đậm được ướp với ớt và hạt tiêu vô cùng bắt mắt. Khi thưởng thức, du khách sẽ cảm nhận được hương vị đặc trưng của trứng cá tuyết kết hợp với vị cay của ớt và tiêu, cùng với đó là vị hơi mặn của muối; cùng với đó là độ giòn tan.

PRO-280A

Không chỉ là thực phẩm mang lại hương vị thơm ngon, độc đáo cho người thưởng thức mà Mentaiko còn được đánh giá cao bởi những giá trị dinh dưỡng mà nó mang lại cho người ăn. Nó chứa một hàm lượng lớn chất đạm, DHA, iot, giàu omega-3 và acid béo không no khác,… mang đến nhiều lợi ích tuyệt vời cho sức khỏe người dùng. Chính vì vậy mà món ăn này không chỉ được ưa chuộng tại thị trường Nhật Bản mà ở nhiều quốc gia khác trên thế giới, Mentaiko cũng là một trong những nguyên liệu được các đầu bếp hàng đầu hết sức quan tâm.

Tại Nhật Bản, Mentaiko có thể được ăn kèm cùng với cơm nóng. Ngoài ra, Mentaiko cũng được dùng để ăn kèm với nhiều loại món ăn khác nhau để tăng hương vị và độ thơm ngon, chẳng hạn như: Mentaiko Gohan (Cơm trộn Mentaiko), Mì Ý sốt trứng Cá Tuyết cay, Khoai tây nướng Mentaiko, Giá đỗ trộn Mentaiko.

Trứng cá có vị ngon ngọt, giòn, chứa nhiều chất dinh dưỡng là một phần không thể thiếu trong văn hóa ẩm thực Nhật Bản. Du khách có thể dễ dàng tìm mua chúng ở bất kỳ cửa hàng tạp hóa chuyên bán đồ Nhật Bản. Hi vọng với những thông tin hữu ích này, du khách có thể tìm được loại trứng cá ưng ý để sử dụng sau chuyến du lịch Nhật Bản.

Nét tinh tế của Nhật Bản qua 11 nghề thủ công truyền thống

Từ lâu, Nhật Bản vốn nổi tiếng với những cảnh quan thiên nhiên làm say đắm lòng người và cả nền văn hóa đặc sắc. Không những thế, Nhật Bản còn là cái nôi của hàng chục nghề thủ công truyền thống có lịch sử hàng trăm, hàng ngàn năm.

Một đất nước với phần lớn lịch sử trong sự cô lập, Nhật Bản đã khẳng định truyền thống nghệ thuật và những ngành nghề thủ công độc đáo được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà không bị biến đổi bởi bất kỳ tác động nào từ thế giới bên ngoài. Dù là bất kể nghề thủ công truyền thống Nhật Bản nào đi nữa thì nó cũng luôn chứa đựng bên trong những câu chuyện về lịch sử, về cái đẹp vô giá, về những giá trị tinh thần không thể nào có được lần hai.

Dao rèn Sakai

Không chỉ được biết đến với cụm lăng mộ Mozu-Furuichi Kofun, một trong 3 lăng mộ lớn nhất thế giới, thành phố Sakai của tỉnh Osaka còn sở hữu nghề rèn dao truyền thống nức tiếng. Đây cũng là một trong những vùng sản xuất dao, kéo chất lượng cao, chiếm đến 98% thị phần dao nhà bếp chuyên nghiệp ở Nhật Bản.

Nghề rèn dao ở Sakai đã có lịch sử hơn 600 năm. Dao nhà bếp Sakai đặc trưng bởi việc kết hợp hai loại vật liệu: thép cứng và sắt mềm khiến dao vừa có độ sắc bén lại vừa dẻo dai. Có 3 công đoạn chính là rèn dao, mài dao và gắn chuôi, mỗi công đoạn sẽ do một nghệ nhân chuyên về lĩnh vực đó đảm nhiệm. Đặc biệt, giống như kiếm Nhật, những chiếc dao Sakai chỉ được mài sắc một mặt và mặt còn lại phẳng, giúp tạo nên những vết cắt đẹp, mịn, bảo đảm giữ nguyên vị ngon umami của nguyên liệu. Do vậy, không chỉ trở thành báu vật của các đầu bếp người Nhật, dao rèn Sakai còn được giới đầu bếp khắp nơi trên thế giới mong muốn sở hữu.

Sản xuất rượu thủ công

Được thành lập hơn 300 năm về trước, Naniwa Shuzo là xưởng rượu có lịch sử lâu đời nhất tại thành phố Hannan thuộc tỉnh Osaka. Khác với các xưởng rượu sử dụng công nghệ hiện đại, nơi đây vẫn trung thành với phương pháp ủ rượu thủ công cổ xưa. Nguồn nước suối tinh khiết chảy từ núi Izumi hòa quyện với hạt gạo thơm ngon được trồng tại vùng Hannan, qua tay nghề thuần thục của các nghệ nhân sẽ tạo ra mẻ rượu tuyệt hảo, là sự pha trộn độc đáo của vị ngọt, chua, đắng và chát làm mê hoặc lòng người.

Nhờ vào bí quyết sản xuất rượu thủ công được lưu truyền qua các thế hệ, Naniwa Shuzo đã nhận vô số giải thưởng danh giá trong lĩnh vực sản xuất rượu Sake. Gần đây nhất, vào tháng 3/2021, dòng rượu nổi tiếng ở Hannan được làm từ những hạt gạo với độ mài đạt tới 40% đã xuất sắc nhận được giải thưởng của Thống đốc Osaka cho loại rượu ngon nhất.

Mặc dù rượu thủ công được ủ từ tháng 11 đến đầu tháng 3, du khách vẫn có thể đến tham quan xưởng Naniwa Shuzo vào bất kỳ thời điểm nào trong năm để vừa tận mắt khám phá quy trình nấu rượu lâu đời, vừa được nếm thử nhiều loại rượu khác nhau.

Nghề làm giấy Washi

Quận Fukui ở miền Trung Nhật Bản nổi tiếng với Washi, một loại giấy được làm từ sợi của cây gampi, cây bụi mitsumata và bụi dâu. Vùng Goka, bao gồm 5 ngôi làng được gọi chung là “Echizen Washi no Sato”, đã làm giấy Washi từ thế kỷ VI; ngày nay có 67 nhà máy giấy ở đây, sử dụng cả phương pháp chế biến thủ công và công nghiệp. Mỗi xưởng đều có nét riêng của mình: Ichibei Iwano, một nhà sản xuất giấy thế hệ thứ 9, vẫn làm mọi thứ thủ công bằng tay và chuyên về Hosho, hoặc giấy được sử dụng để in mộc bản cho nghệ thuật Ukiyo-e của Nhật Bản; còn Jiyomon Paper Studio thì sản xuất nhãn giấy cho những chai rượu Sake. Nghề làm giấy thủ công truyền thống độc đáo này của Nhật Bản sẽ luôn được bảo tồn và phát triển qua các thế hệ.

Để có kiến thức cơ bản về nghề thủ công này, du khách hãy ghé thăm Bảo tàng Văn hóa & Giấy ở thành phố Echizen, sau đó tiếp tục tham quan Bảo tàng Thủ công & Giấy Udatsu gần đó, nơi du khách có thể quan sát các màn trình diễn làm giấy thực tế bằng các công cụ cổ điển vô cùng sống động. Tại Paccorus House, du khách thậm chí có thể tự mình làm giấy bằng cách sử dụng hoa ép theo mùa, quá trình này mất khoảng 20 phút. Umeda Shop trên Washi Street sẽ là một điểm dừng đáng giá khác, du khách sẽ có những lựa chọn tuyệt vời với các mặt hàng giấy được làm thủ công hoặc sản xuất bằng máy và việc bạn cần làm chỉ là điền vào đơn đặt hàng tùy chỉnh theo yêu cầu.

Quạt gấp truyền thống Miyawaki Baisenan

Được thành lập vào năm 1823 tại quận Nakagyo thuộc thành phố Kyoto, cửa hàng quạt gấp truyền thống Miyawaki Baisenan vẫn giữ nguyên kiến trúc nhà gỗ truyền thống vốn phổ biến ở các con phố cổ Nhật Bản. Đây là nơi lưu giữ lịch sử và các đặc trưng của quạt gấp Kyoto, loại quạt không chỉ dùng làm mát mà còn được sử dụng để làm đạo cụ biểu diễn trong nghệ thuật kịch Noh hay hài kịch Kyogen.

Người ta thường nói, một chiếc quạt gấp Kyoto làm ra phải trải qua bàn tay của nghệ nhân 87 lần, từ đó thấy được sự tỉ mỉ và công phu đặt vào từng sản phẩm. Quy trình tạo ra một chiếc quạt bao gồm hơn 20 công đoạn, từ làm khung và mặt giấy, trang trí, mài nhẵn…, mỗi công đoạn lại được đảm nhiệm bởi một nghệ nhân chuyên biệt.

Khi ghé thăm Miyawaki Baisenan, du khách sẽ được khám phá “mê cung” của những chiếc quạt gấp ở tầng 1 của cửa hàng. Đặc biệt, tại trần nhà ở tầng 2 là kiệt tác tranh tường vẽ những chiếc quạt giấy, một tác phẩm tâm huyết do 48 bậc thầy hội họa Kyoto thời bấy giờ như Tomioka Tessai, Takeuchi Seiho hoàn thành vào năm 1902. Trải qua gần 200 năm, Miyawaki Baisenan vẫn luôn là một tượng đài đối với những người trót “phải lòng” chiếc quạt gấp truyền thống của Nhật Bản.

Nghề làm sứ

Arita nằm ở quận Saga là một trong những làng nghề nổi tiếng nhất ở Nhật Bản, đã sản xuất đồ sứ đặc trưng của mình từ thế kỷ XVII. Chỉ có một vài xưởng còn hoạt động cho tới tận ngày hôm nay, nhưng đặc biệt, ở đây có một quần thể gốm sứ 22 cửa hàng (Arita Será), cộng với các phòng trưng bày đồ sứ cao cấp (Arita Sứ Lab, Koransha) và một lễ hội và chợ sứ hàng năm (Arita Toukiichi) được tổ chức vào tháng Tư hàng năm.

Tuy nhiên, điểm dừng chân đầu tiên cho du khách tìm hiểu về đồ sứ là Bảo tàng gốm Kyushu. Triển lãm trưng bày cả đồ gốm truyền thống và đương đại được sản xuất tại khu vực Hizen, bao gồm các đồ gốm Karatsu, Nabeshima và Arita. Trong khi đó tại Bảo tàng Kakiemon, “số 0” trong các bình và lọ được sản xuất theo phong cách Kakiemon, một loại sứ tráng men phổ biến được sản xuất ở Arita cho đến cuối thế kỷ XVII, nó có các thiết kế hoa đầy màu sắc được bố trí trên một thân gốm màu trắng sữa. Bảo tàng này trưng bày các tác phẩm của các bậc thầy thế hệ 12, 13, và 14, cũng như các tác phẩm của học viên hiện thời của Sakaida Kakiemon XV.

Để có trải nghiệm thực tế hơn, du khách hãy đến xưởng gốm Rokuro-za. Sau một bản demo ngắn với các hướng dẫn viên địa phương, “những lính mới” có thể leo lên phía sau bánh xe của thợ gốm chuyên nghiệp và thử nghiệm các kỹ năng của chính họ (và các tác phẩm cuối cùng của họ sẽ được gửi lại sau khi sản phẩm bằng gốm đó đã được nung).

Nghề làm vật dụng bằng kim loại Owari Shippo

Khác với các sản phẩm gốm sứ thông thường được sản xuất từ đất sét, nguyên liệu chính của Owari Shippo là kim loại. Tương tự như cách nung chảy gốm trong lò nung, những tấm kim loại bằng bạc hoặc đồng được dùng để tạo khung cho sản phẩm Owari Shippo, với men thuỷ tinh được tráng trên bề mặt.

Thành phẩm Owari Shippo thường rất tinh xảo với bề mặt được trang trí bằng các loại hoa văn phong phú. Cảnh vật thường được thể hiện nhất trên bề mặt Owari Shippo là phong cảnh hữu tình, hoa cỏ, chim, bướm, gió, mặt trăng.

Owari Shippo bắt nguồn từ những năm cuối thời Edo, khi những món mỹ nghệ như cốc uống rượu Sake bắt đầu được sản xuất ở vùng đất do gia tộc Owari cai quản. Một người hầu cận của nhà Owari tên Tsunekichi Kaji đã thành công học tập và cải tiến kỹ thuật làm đồ thủ công bằng kim loại của Hà Lan để tạo ra những sản phẩm chất lượng. Kỹ thuật này nhanh chóng phổ biến nhiều nơi và giúp định danh Owari Shippo trong giới thủ công mỹ nghệ.

Quá trình sản xuất Owari Shippo đòi hỏi những nghệ nhân chuyên nghiệp và tỉ mẩn. Các công đoạn cơ bản sẽ bao gồm làm khung, vẽ trang trí, gắn dây bạc bằng một loại keo đặc biệt, tráng men thuỷ tinh, nung và đánh bóng. Quá trình nung được lặp đi lặp lại khoảng 4-8 lần, sau đó bề mặt mới được đánh bóng và trang trí, tạo nên những sản phẩm toát lên vẻ đẹp sang trọng và cổ điển phương Đông.

Nghề dệt thủ công Bashō-fu

Bashō-fu, một loại vải dệt thủ công truyền thống từng được hoàng gia Ryukyu mặc, được sản xuất độc quyền tại Kijōka, một ngôi làng nhỏ ở quận Ōgimi ở phía Bắc Okinawa. Các sợi vải tinh tế đến từ lá của Itobasho, một loại chuối hoang dã; việc thu hoạch, kéo sợi, nhuộm tự nhiên và dệt vải đều được thực hiện tại địa phương. Sản xuất đã giảm trong những năm gần đây do sự thiếu của Itobasho và sự mai một trong số lượng của những người thợ thủ công Bashō-fu lành nghề. Phải mất tới 3 tháng và phải kéo sợ tới 200 cây để dệt một bộ Kimono Bashō-fu; vì vậy, đây được coi như là một sản phẩm đắt giá đích thực, có thể lấy tới vài triệu Yên, hoặc hàng chục ngàn USD.

Taira Toshiko, chủ tịch 98 tuổi của Hiệp hội bảo tồn Kijoka Bashō-fu và là một trong những nghệ nhân dân gian cùng một số ít những học viên còn lại đang ngày ngày làm việc chăm chỉ để bảo tồn và hồi sinh nghề thủ công này; Mieko Taira, con dâu của bà, là người kế vị được chỉ định của bà. Khách du lịch đến Okinawa có thể học di sản nghề thủ công Bashō-fu tại Ōgimi Village Bashō-fu Kaikan, một không gian được xây dựng với mục đích để dạy cho những người học về nghệ thuật Bashō-fu. Du khách được chào đón để quan sát quá trình sản xuất và có thể mua những món quà Bashō-fu nhỏ tại đây.

Nghề làm vải Denim

Hãy hỏi bất kỳ người sùng bái Denim nào và họ sẽ nói với du khách rằng nơi tốt nhất thế giới có nguồn vải Denim là Nhật Bản. 5 công ty trong hoặc gần thành phố Osaka được ghi nhận với sự hồi sinh của nghề làm vải Denim Nhật Bản, bắt đầu với việc nhà thiết kế thời trang Shigeharu Tagaki thành lập Studio D’Artisan vào năm 1979. Với sự ra mắt này, Tagaki nhằm mục đích tái tạo Denim Mỹ những năm 1960 danh tiếng, tuy chất lượng của loại vải này đã xuống dốc không phanh kể từ khi chúng được sản xuất theo dây chuyền hàng loạt. Tagaki rời công ty vào giữa những năm 1990, nhưng ông vẫn được ghi nhận bởi sự thiết lập những tiêu chuẩn vàng cho Denim thô Nhật Bản.

Những người săn lùng vải Denim luôn sẵn sàng lên kế hoạch cho một chuyến đi đến Nhật Bản sẽ tìm thấy không thiếu các cửa hàng Denim cho họ “giải phóng” hầu bao của mình. Tại Osaka, du khách sẽ tìm thấy những lá cờ đầu là Warehouse và Studio D’Artisan, cùng với Samurai Jeans, đây chính là điểm dừng chân đầu tiên cho những người muốn mua dòng Jeans cổ điển 15 oz. lấy cảm hứng từ Levi’s 501s. Village Authentic Clothing Arc là một sự lựa chọn khác, cửa hàng này cung cấp Denim đến từ Fullcount, Pherrow, và Mister Freedom x Sugar Cane.

Để đến gần hơn với nguồn chính, hãy đi 2 giờ về phía Tây đến Kurashiki ở quận Okayama, nơi hàng chục nhà máy nhuộm chàm do gia đình điều hành vẫn đang hoạt động. Tại đây, du khách có thể lướt qua Bảo tàng Jeans Betty Smith; tham quan nhà máy dệt nhuộm chàm Takashiro Senkou 80 tuổi (ở đó, nếu du khách đặt chỗ trước, du khách có thể tự tay nhuộm thử); hoặc đi dạo xuống Kojima Jeans của Kurashiki – một dãy phố mua sắm với các nhà thương hiệu Denim cao cấp (Jeanzoo, Momotaro Jeans, Japan Blue)!

Nghề nhuộm Arimatsu Narumi Shibori

Shibori là một kỹ thuật nhuộm buộc vải tinh vi được lưu truyền từ những người xây Lâu đài Nagoya ở thành phố Nagoya, Aichi. Trong thời kỳ Keicho (1596-1615), Takeda Shokuro đã học hỏi kỹ thuật này và quảng bá nó với tên gọi “Kukuri-shibori”. Phương pháp này dựa trên ý tưởng cốt lõi là sau khi in hoa văn lên mảnh vải thì vải được cột bằng chỉ bông trước khi nhuộm. Vì thế khi nhuộm, chỗ cột sẽ không được nhuộm và tạo thành các hoa văn khác nhau khi gỡ chỉ ra. Chính vì vậy, công đoạn buộc vải là đặc biệt quan trọng để quyết định chất lượng sản phẩm.

Kỹ thuật buộc vải có đến hơn một trăm biến thể, đơn cử như Kumo-shibori (kiểu mây), Arashi-shibori (kiểu bão), Yuki-shibori (kiểu tuyết), và chỉ có thể thực hiện thủ công nếu muốn tạo ra bố cục như ý. Quá trình nhuộm buộc này kéo dài trung bình 50-60 ngày, với nhiều thợ thủ công chuyên trách các công đoạn khác nhau.

Với vẻ đẹp truyền thống, hiện nay, nghề nhuộm này chủ yếu phục vụ việc sản xuất Furisode (Kimono dài tay), Houmongi (Kimono thường dùng trong đám tiệc), vải lụa, Yukata, lẫn các sản phẩm trang trí nội thất khác.

Nghề làm bút vẽ truyền thống Fude-shi

Trong gần 2 thế kỷ, thị trấn miền núi Kumano thuộc tỉnh Hiroshima là nơi sản xuất hàng đầu các loại bút vẽ thủ công chất lượng cao. Được biết, 80 công ty gia đình ở Kumano thống trị 80% sản lượng bút vẽ nội địa của Nhật Bản, với tổng số lên đến 15.000.000 bút vẽ mỗi năm. Trong số 27.000 cư dân của thị trấn, người ta ước tính rằng có tới 1.500 người làm bút vẽ truyền thống tại đây. Trên thực tế, thị trấn rất tôn sùng những cây cọ vẽ, có một nghi lễ đặc biệt ở Đền Sakakiyama vào thế kỷ thứ 10, nơi những chiếc bút vẽ được hỏa táng trong Lễ hội Fude no Matsuri và Lễ hội Mùa Thu Kumano.

Đối với những vị khách du lịch mong muốn tìm hiểu kiến ​​thức về loại bút lông đặc biệt này, có Fudenosato Kobo, một bảo tàng và xưởng thiết kế chuyên tổ chức và thiết kế các bản demo và xưởng thực hành. Bảo tàng là nơi trưng bày của một cọ vẽ thư pháp dài 12 feet, nặng 882 pound, và cửa hàng quà tặng ở đây bán 1.500 kiểu cọ, bao gồm cọ vẽ và cọ trang điểm được sản xuất bởi 32 công ty có trụ sở tại Kumano. Giá chỉ trong khoảng vài USD, vì vậy, không có lý do gì để không mang về nhà một vài món quà lưu niệm thủ công ấn tượng và đặc biệt.

Nghề làm bàn thờ Phật giáo Nagoya Butsudan và Mikawa Butsudan

Ngoài đồ thủ công mỹ nghệ có kích thước nhỏ và vừa, tỉnh Aichi cũng nổi tiếng có nghề làm bàn thờ Phật giáo chất lượng cao, nổi bật là Nagoya Butsudan và Mikawa Butsudan. Cả Nagoya và Mikawa đều có nhiều thợ thủ công tay nghề cao, sử dụng các loại gỗ quý như thông, tuyết tùng và cây bách để sản xuất bàn thờ.

Nagoya Butsudan có mặt bàn thờ cao ráo và ba cửa phía trước có thể kéo lên để mở ra. Kiểu bàn thờ này giúp hạn chế hư hại do lũ lụt. Trong khi đó, do vùng Mikawa có tập quán bày bàn thờ Phật trong tủ nên Mikawa Butsudan làm bàn thờ kích thước vừa vặn với bệ thấp và đặc trưng bởi kiểu trang trí lượn sóng.

Nagoya Butsudan bắt nguồn từ năm 1695, khi các thợ thủ công từng tham gia xây dựng Chùa Higashi Honganji sử dụng gỗ bách để làm bàn thờ Phật giáo và chạm trổ những chi tiết nghệ thuật chất lượng, đặt nền tảng cho làng nghề hiện nay. Còn Mikawa Butsudan ra đời muộn hơn một chút, vào khoảng năm 1704. Lúc này, nghệ nhân của gia tộc Shohachi bắt đầu dùng gỗ quý để sản xuất bàn thờ Phật giáo. Nhờ tuyến đường vận chuyển dọc sông Yahagi và sơn mài sẵn có ở khu vực Bắc Mikawa, Mikawa Butsudan nhanh chóng phát triển.

Cả Nagoya và Mikawa Butsudan đều cho thấy đỉnh cao của nghệ thuật với thành phẩm là sự kết hợp của chuyên gia đến từ 8 lĩnh vực gồm nghề mộc, nội thất đền chùa, điêu khắc, trang trí, sơn mài, sơn mài bằng vàng, mạ vàng và lắp ráp.

11 nghề thủ công truyền thống trên đây đã góp phần tạo nên những sự khác biệt đến bất ngờ cho văn hóa Nhật Bản. Khi có dịp du lịch Nhật Bản, du khách hãy tự mình khám phá thêm nhé! Cũng đừng quên mua các sản phẩm thủ công mỹ nghệ về làm kỷ niệm. Đó cũng là một cách để du khách hiểu biết thêm về nền văn hóa của đất nước này.

Quán “Kawaii Monster Café” đầy màu sắc vui nhộn tại Nhật Bản

Trong thời gian gần đây, những quán cafe theo chủ đề như quán cafe mèo, chó cưng hay quán cafe cá đã không còn xa lạ đối với nhiều người. Tuy nhiên, quán cafe về chủ đề quái vật ở Nhật Bản sẽ khiến nhiều người thích thú. Đó là quán “Kawaii Monster Café” (tạm dịch: “Yêu quái dễ thương”) nằm ở thủ đô Tokyo, Nhật Bản. Địa điểm này sẽ thích hợp với những cô nàng yêu thích sự dễ thương.

Quán “Kawaii Monster Café” lấy ý tưởng từ những quái vật dễ thương, ngộ nghĩnh theo phong cách Kawaii. Theo từ điển định nghĩa, “Kawaii” là cảm giác ấm áp được che chở. Ngày nay, từ “Kawaii” đã được mở rộng hơn và được các cô gái dùng để chỉ những thứ mình thích hay những thứ dễ thương. “Kawaii” phát triển khá mạnh ở Nhật Bản và trở thành văn hóa Kawaii. Ngoài ra, người Nhật còn biến văn hóa Kawaii thành một biểu tượng của mình.

Được biết, quán “Kawaii Monster Café” là tâm huyết của Sebastian Masuda – nghệ sĩ và là người dẫn đầu phong cách thời trang “kawaii” Harajuku. Đứa con tinh thần này của ông thu hút rất nhiều giới trẻ yêu thích phong cách thời trang Harajuku. Làm sao du khách có thể từ chối sự dễ thương của cảnh vật và kể cả dàn tiếp viên xinh đẹp đáng yêu, đây quả là một trải nghiệm thú vị!

Kawaii Monster Café bắt đầu hoạt động từ tháng 8/2015. Bất kỳ ai khi bước chân vào quán cũng sẽ có cảm giác như đang lạc vào một thế giới khác bởi nội thất ở đây được thiết kế theo kiểu mô phỏng phần bên trong cơ thể của một con quái vật. Du khách như được thỏa lòng với những thứ vô cùng dễ thương, phải nói là siêu dễ thương với những viên kẹo ngọt ngào và những chú quái vật cute đến nỗi nhìn không nỡ ghét.

Giống như Wonderland của Alice hay Candyland của Willy Wonka, quán “Kawaii Monster Café” nổi bật bởi nội thất độc đáo đầy màu sắc vui nhộn của những con quái vật cùng đồ ăn, thức uống đặc thù. Quán được chia làm 5 khu vực chính với từng chủ đề: Sweets Go Round, Mushroom Disco, Milk Stand, Bar Experiment và Mel-Tea Room.

  • Mushroom Disco là khu vực được bố trí theo từng bàn riêng biệt. Đây như là một khu rừng đầy màu sắc của những cây nấm độc to lớn uốn lượn khắp nơi. Khu vực này là nơi thưởng thức đồ ăn, thức uống và trò chuyện nên không gian khá thân mật và ấm cúng.
  • Milk Stand giống như một phần khác của Mushroom Disco với cách bố trí bàn ngồi giống nhau nhưng theo một chủ đề khác nhau. Thỏ, cừu, ngựa… cùng với một số lượng lớn các bình sữa trẻ em được treo ngược lơ lửng bên trên cũng vừa là hệ thống đèn trần chiếu sáng một cách sáng tạo.
  • Bar Experiment dành cho những món đồ uống cocktail ngon và thú vị. Bao quanh khu này là một con sứa lớn phát ra một màu xanh để tạo hiệu ứng như đang ở dưới đại dương. ‘Experiment” ám chỉ đến việc quán sử dụng các thiết bị phòng thí nghiệm trong việc phục vụ khách hàng như ống nghiệm được sử dụng làm ly để uống…
  • Mel-Tea Room: Để vào khu vực này, du khách được dẫn dắt bởi một đàn kiến. Căn phòng Mel-Tea tràn đầy hình ảnh “ngọt ngào” của những chiếc bánh Macaron, kem sữa tươi, chocolate… Đây là không gian cho một “bữa tiệc trà kawaii” và những món bánh hấp dẫn.

Hơn nữa, ngoài các khu vực chính, quán còn bố trí nhiều khu vực xung quanh để phục vụ khách hàng và một phòng Vip Pinkcatroom diện tích tương đối rộng. Hầu hết các không gian được tăng cường bày trí và “tô màu” với mọi thứ ngộ nghĩnh. Đặc biệt, nằm “ẩn” ở cuối hành lang, một khu vực trò chuyện với nhiều hình chiếc môi đỏ được trang trí khắp tường như ám chỉ “phụ nữ nói nhiều”. Một điều thú vị khiến địa điểm này trở nên hoàn hảo chính là thực đơn mang phong cách của quán và những nhân viên được hóa trang thành các “monster girls”.

Khi bước qua cánh cổng của quán, du khách sẽ được chào đón bởi biểu tượng “Sweets Go Round”. Nổi bật ngay chính giữa là chiếc bánh kem màu sắc khổng lồ cũng là chiếc đu quay với nhiều thú nhún khác nhau kết hợp ánh sáng đèn xung quanh. Hiệu ứng màu sắc còn được nhấn mạnh bởi phần trần bằng gương phản chiếu như trong một quán bar sang trọng.

Nữ nhân viên của quán trong những bộ trang phục sặc sỡ có hình dáng “cô quỷ nhỏ” sẽ đưa du khách đi tham quan xung quanh. Họ sẽ cho du khách thấy những khía cạnh có phần kỳ quái của văn hóa Kawaii. Và du khách hoàn toàn có thể nắm bắt được những xu hướng đang thịnh hành trong nền văn hóa này thông qua trang phục của họ.

Nội thất không phải là điểm độc đáo duy nhất tại đây khi các món ăn và đồ uống của quán cũng được chế biến rất lạ mắt. Du khách có thể thưởng thức món mì Ý và tráng miệng đầy màu sắc cũng như các món cocktail kỳ lạ. Thức ăn và đồ uống ở đây được đánh giá không những dễ thương mà còn rất ngon nữa.

Với những điều khác biệt mà quán “Kawaii Monster Café” mang lại, nhiều người cho rằng đây thật sự là một trải nghiệm thú vị và mới lạ đáng thử một lần trong đời. Còn chần chờ gì nữa mà du khách không đến ngay với “Kawaii Monster Café” trong chuyến du lịch Nhật Bản?