Răng đen nhánh – chuẩn mực cho sự kiêu sa và quyến rũ của phụ nữ Nhật Bản xưa

Xuyên suốt nhiều thế kỷ, những hàm răng đen nhánh được coi là một biểu tượng của vẻ đẹp nữ giới ở Nhật Bản. Không những thế, Phụ nữ Nhật nhuộm răng đen cũng với mục đích bảo vệ sức khỏe răng miệng, đánh dấu sự trưởng thành hoặc thể hiện địa vị quý tộc.

Nhuộm răng là một phong tục phổ biến trong xã hội Nhật Bản thời xưa nói riêng và một số quốc gia Châu Á khác. Ở Nhật Bản tập tục này có tên là “Ohaguro”. Phụ nữ ở “xứ Phù Tang” khi đó cho rằng việc sở hữu hàm răng đen cùng làn da màu trắng sẽ trông thật tuyệt vời.

Ohaguro tồn tại từ rất lâu đời trong văn hóa “xứ Phù Tang”

Tại Nhật Bản, “Ohaguro” xuất hiện từ thời Kofun (250-538). Những nhà khảo cổ đã tìm thấy những dấu vết xương người cổ đại cũng như tượng đất sét, được gọi là “Haniwa”, cho thấy dấu vết của những hàm răng đen từ thời kỳ đó. Tuy nhiên, đến cuối thời kỳ Heian (794-1185) thì tục này mới thật sự phổ biến.

Suốt chiều dài lịch sử của Nhật Bản, “Ohaguro” đã được nhắc đến khá nhiều. Trong Genji Monogatari, một cuốn sách nổi tiếng có từ thế kỷ 12, đây được coi là tiểu thuyết đầu tiên trên thế giới, hay trong những câu chuyện cổ tích và dân gian, tập tục làm răng đen đều được nhắc đến như một nghệ thuật

Các chuyên gia cho rằng, một trong những lý do chính khiến Ohaguro phổ biến là do trong hàng trăm năm, những thứ “đen như mực” ở Nhật Bản được coi là đẹp hoàn hảo. Và hướng đến cái đẹp là lẽ tự nhiên của con người, giống như việc tẩy trắng răng của thời hiện đại.

Vào thời Heian, trẻ em khoảng 15 tuổi sẽ được nhuộm răng lần đầu tiên như một sự kiện đánh dấu sự trưởng thành.

Đến thời kỳ Muromachi (1336-1573), văn hóa nước Nhật vẫn còn gìn giữ phong tục nhuộm răng truyền thống. Ohaguro thường phổ biến với những người có địa vị xã hội cao, có tiền tài và danh vọng. Thông thường, con gái của các vị chỉ huy quân đội trong độ tuổi từ 8-10 tuổi sẽ được nhuộm răng. Mặc khác, các chỉ huy quân sự cũng dùng Ohaguro như cách che đi khuyết điểm trên cơ thể do chiến tranh gây ra. Phổ biến nhất là che đi khuôn mặt đã bị biến dạng và che vết sẹo.

Vào thời Edo (1603-1858), tục nhuộm răng đen đã không còn được người dân ưa chuộng như những thế kỷ trước. Ở thời này, chỉ những người phụ nữ đến tuổi lấy chồng hoặc Geisha mới nhuộm Ohaguro. Đặc biệt những người đàn ông hoặc phụ nữ có liên quan đến hoàng gia hoặc giai cấp quý tộc cùng nhuộm răng đen. Bên cạnh đó, phụ nữ Nhật Bản thời gian này cảm thấy việc nhuộm răng đen quá rườm rà và mất thời gian nên chỉ giữ lại hoạt động này khi đến các dịp lễ lớn hoặc sự kiện quan trọng.

Bước vào thời Meiji (1868-1912), văn hóa nước Nhật bắt đầu hòa nhập và lĩnh hội với văn hóa các nước phương Tây. Vì thế, tục nhuộm răng đen đã bị cấm vào năm 1970. Những tưởng phong tục này sẽ bị “xóa sổ”. Tuy nhiên, đến thời Minh Trị Duy Tân, Ohaguro đã được cho phép thực hiện trở lại. Nhưng khi ấy chúng không thực sự ấn tượng nữa nên dần dần bị lãng quên.

Thời nay, để chiêm ngưỡng hình ảnh phụ nữ Nhật cùng hàm răng đen du khách có thể đến các buổi diễn kịch hoặc đến xem Geisha. Một số nghệ nhân Geisha vẫn còn gìn giữ tục nhuộm răng đen này và truyền bá chúng đến các du khách bốn phương.

Phương pháp nhuộm răng đen

Phương pháp truyền thống của phụ nữ Nhật Bản để có được hàm răng đen liên quan đến việc điều chế một loại thuốc nhuộm dạng nước gọi là “Kanemizu”.

Trước tiên, người ta ngâm bột sắt trong trà hoặc rượu Sake cùng với giấm. Khi sắt bị oxy hóa, chất lỏng chuyển sang màu đen. Mùi vị của loại thuốc nhuộm này khá kinh khủng nên một số hương liệu như quế, đinh hương và hồi được thêm vào để tạo hương thơm.

Những người muốn răng chuyển sang màu đen sẽ uống Kanemizu mỗi ngày một lần hoặc vài ngày một lần để màu đen trở nên đậm dần và không bị phai màu. Sau một thời gian, răng của họ sẽ có màu đen vĩnh viễn. Các nhà khảo cổ từng phát hiện một số bộ cài cốt có niên đại từ thời kỳ Edo vẫn giữ được hàm răng đen cho đến ngày nay.

Huyền thoại về ma nữ răng đen

Trong văn hóa dân gian Nhật Bản, người ta lưu truyền những câu chuyện đáng sợ về ma nữ Ohaguro Bettari (được dịch là “không có gì ngoài răng đen”). Ohaguro Bettari là linh hồn của một phụ nữ xấu xí không thể lấy được chồng. Cô thường xuất hiện gần các đền thờ vào ban đêm. Cô thích mời gọi những người đàn ông trẻ tuổi độc thân đến với mình, và họ hiếm khi có thể cưỡng lại sức hấp dẫn của cô. Tất nhiên, cho đến khi họ tiến lại quá gần.

Nhìn từ xa, Ohaguro Bettari trông giống một phụ nữ xinh đẹp mặc bộ Kimono trong ngày cưới. Lúc đầu, cô ấy che giấu phần đầu của mình và quay lưng lại với bất kỳ người xem nào. Tuy nhiên, khi những người đàn ông tiến lại gần để nhìn rõ hơn thì cô ấy sẽ quay lại, để lộ khuôn mặt đáng sợ với làn da trắng bệch, miệng rộng chứa đầy răng đen, không có mắt và mũi. Cô tiếp nối cú sốc ban đầu này bằng một tiếng kêu thảm thiết, khiến người đàn ông bỏ chạy. Ngoài việc khiến những người đàn ông sợ hãi, Ohaguro Bettari dường như không làm hại ai.

Con người và văn hóa “xứ Phù Tang” quả thực có quá nhiều điều thú vị thu hút khách du lịch trên thế giới tìm đến khám phá và trải nghiệm. Nếu du khách có hứng thú với con người và nền văn hóa đặc sắc ở nơi đây, hãy Book Tour Nhật Bản của chúng tôi nhé!

Sashiko – một trong những hình thức nghệ thuật thủ công tiêu biểu của Nhật Bản

Trong đời sống hiện đại ở Nhật Bản, kỹ thuật may vá Sashiko với những đường khâu đơn giản luôn có sức hút lạ kỳ và trở thành một trong những hình thức nghệ thuật thủ công tiêu biểu của đất nước này.

Sashiko (刺し子, nghĩa là “mũi đâm”) là một kỹ thuật may vá truyền thống của đất nước Nhật Bản. Ngày nay, kỹ thuật này đã trở thành một phong cách độc đáo và có chỗ đứng trong ngành thời trang cao cấp. Tuy nhiên, ít ai biết ban đầu nó được phát triển bởi những người lao động nghèo để tận dụng những bộ đồ cũ dùng từ thế hệ này qua thế hệ khác.

Nghệ thuật Sashiko bắt đầu từ nhu cầu thực tế của những người dân thường trong thời Edo (1615-1868). Trong thời kỳ này, may vá là hoạt động chính hàng ngày của những người phụ nữ thuộc gia đình tầng lớp lao động thời Edo. Họ sử dụng kỹ thuật Sashiko để gia cố hoặc sửa chữa những chỗ bị mòn rách trên quần áo bằng các miếng vá, làm cho miếng vải trở nên bền chắc và dày hơn. Vậy là Sashiko đã ra đời như một kỹ năng cần thiết để tồn tại thời bấy giờ.

Cũng vào thời Edo, vì thời tiết lạnh giá mà những người nông dân không thể trồng bông tại những khu vực ở phía Bắc Nhật Bản. Lúc ấy, theo hệ thống phân chia tầng lớp tại Nhật thời đó, một sắc lệnh tiết kiệm đối với tầng lớp nông dân được ban hành vào năm 1742 đã cấm nông dân mặc đồ bông, bao gồm quần áo lao động, mũ đội đầu, đồ lót và thắt lưng Obi. Do đó, họ quyết định sử dụng vải lanh để thay thế (loại vải sợi gai dầu thô ráp và dễ bị sờn rách). Mặc dù vải lanh thoáng mát và thoải mái vào mùa hè, nó lại không phù hợp với mùa đông tại miền bắc lạnh giá. Vì vậy, họ đã nghĩ ra cách may chồng các mảnh vải lanh lên nhau để tạo độ dày, giúp hơi ấm được lưu lại trong bên trong áo quần.

Đến thời Minh Trị (1868-1912), kỹ thuật may vá Sashiko đã trở nên phổ biến hơn trong đời sống của người dân Nhật Bản. Ngay cả quần áo bảo hộ cá nhân, áo khoác của lính cứu hỏa (Hikeshibaten) trong thời kỳ Edo và Meiji cũng được tạo mẫu bằng kỹ thuật Sashiko với hình thêu rồng, biểu tượng của nước và lòng dũng cảm.

Ngày nay, khi con người hiện đại có xu hướng tối giản hóa lối sống, những đường khâu đơn giản nhưng lại có sức hút khó tả của Sashiko trở thành một trong những hình thức nghệ thuật thủ công tiêu biểu của Nhật Bản. Hiện tại, người ta ứng dụng các mẫu Sashiko truyền thống để trang trí cho các sản phẩm như: khăn tay, đệm, túi xách, tấm lót ly, quần áo,… để làm tăng tính thẩm mỹ cho chúng. Sashiko cũng không còn giới hạn trên vải màu chàm truyền thống nữa, mà được kết hợp nhiều màu sắc khác nhau, trở thành một phương pháp trang trí vải.

Du khách cũng có thể may họa tiết chần bông bằng kỹ thuật Sashiko, hoặc tự sáng tạo cho mình những cách ứng dụng khác nhau tùy theo ý thích. Ngoài ra, kỹ thuật của Sashiko chỉ gồm những đường kim mũi chỉ đơn giản, vì vậy nó còn được sử dụng như một cách phục hồi chức năng cho người cao tuổi.

Cho đến ngày nay, phong cách thêu Sashiko đã phát triển và mang tính nghệ thuật hơn, nhưng về cơ bản nó có 5 loại chính:

Moyozashi sử dụng các đường khâu chạy có các dạng hình học lặp đi lặp lại, được tạo thành từ các đường thẳng, đường cong hay zigzag, và thường bao gồm những họa tiết, hình ảnh mang ý nghĩa may mắn từ xa xưa. Với Moyozashi, các mũi khâu không bao giờ chạm nhau mà có khoảng cách được giữa chúng.

Hitomezashi là sự liên kết của nhiều đường khâu đơn có thể là các đường ngang, dọc hoặc có chéo, có thể chạm hoặc không chạm nhau, tạo thành các hình có đường viền. Đường cong không được sử dụng trong họa tiết này. Không giống như mẫu Moyozashi, các sợi chỉ thường giao nhau và bắt chéo nhau như một phần của thiết kế. Hitomezashi có xu hướng gồm các đường khâu dày đặc hơn là Moyozashi. Kiểu hoa văn này hay được ứng dụng trong sửa chữa trang phục.

Kogin, có nghĩa là tấm vải nhỏ, đây là một loại hình thêu kỳ công từ quận Tsugaru của Honshu. Nó được khâu từ bên này sang bên kia, trong đó hầu hết các số lượng sợi không đồng đều: một, ba, năm và đôi khi là bảy. Các đường khâu dài, thường được khâu ở mặt sau, dẫn đến vải có độ dày gần như gấp ba lần ban đầu, có tác dụng giữ ấm trong mùa đông.

Shonai Sashiko là một kỹ thuật thêu truyền thống của vùng Shonai, Yamagata, ở phía tây bắc Nhật Bản. Ban đầu, nó được sử dụng để kết hợp hai hoặc nhiều lớp vải gai dầu hoặc vải bông, và có đặc điểm là các đường thẳng bắt chéo và đan chéo vào nhau, và được thực hiện bằng đường khâu chạy.

Kakurezashi là nghệ thuật sử dụng sợi chỉ nhuộm chàm để thêu, khiến các họa tiết không chỉ đơn giản là màu đen trắng mà còn tạo nên nhiều màu sắc và họa tiết sắc nét và màu sắc hơn.

Các mẫu thêu phổ biến nhất của Nhật Bản là vảy cá, kim cương, núi, tre, lá hồng, hình mũi tên, cỏ pampas… và các khối hình học lồng vào nhau.

Nét đẹp trong “nghệ thuật” Sashiko của Nhật Bản rất khó thể có thể miêu tả hết được. Chỉ có thể thực hiện ngay một chuyến du lịch Nhật Bản cùng chúng tôi, du khách mới có thể khám phá được hết những “nét đẹp” văn hóa này.

11 giống chó vô cùng đáng yêu tại Nhật Bản

Chó là hai loài thú cưng phổ biến trong các gia đình Nhật. Với lòng trung thành của mình, loài chó thường được các gia đình Nhật coi như một thành viên trong nhà. Bên cạnh hai giống chó vô cùng nổi tiếng là Shiba và Akita, tại “xứ Phù Tang” còn có nhiều giống chó “đặc biệt” khác.

Tại Nhật Bản có 6 giống chó trong nhóm “Nihon-ken” và được coi là quốc khuyển của quốc gia này. Tiêu chuẩn Nihon-ken được xác lập vào năm 1934 bởi Nihon-ken Hozonkai, một tổ chức cộng đồng của Nhật Bản chịu trách nhiệm bảo tồn và duy trì 6 giống chó bản địa. Các nihon-ken bao gồm: Shiba Inu, Kishu Ken, Shikoku Ken, Hokkaido Ken, Kai Ken và Akita inu (Akita Inu còn được biết đến với cái tên Hachiko).

Bên cạnh 6 loài trên, còn có một số loại chó khác có nguồn gốc Nhật Bản như: Kawakami, Tosa Ken, Chin, Spitz và Terrier.

Akita Inu

Chắc hẳn du khách đã từng một lần được nghe câu chuyện về chú chó Hachiko trung thành, thậm chí chú còn có hẳn một bức tượng ở trung tâm khu Shibuya, Tokyo. Hachiko thuộc dòng Akita Inu, giống chó lâu đời nhất ở Nhật Bản.

Theo các dấu vết còn sót lại, các chuyên gia nhận định rằng Akita đã xuất hiện từ khoảng 2 thiên niên kỷ trước. Giống chó này có suy nghĩ và ngôn ngữ độc lập, chúng nổi tiếng với sự trung thành và tôn thờ chủ nhân tuyệt đối. Bên cạnh đó, Akita cũng sống vô cùng tình cảm.

Chó Akita có khuôn mặt đặc biệt dễ thương cùng thân hình vô cùng cân đối. Akita Inu có thể có màu mè, vện, đỏ, nâu vàng hoặc trắng tinh, nhưng phải có dấu “Urajiro” (vệt màu kem trắng) trên ngực, má và vùng đuôi.

Nó là giống chó thuần lớn nhất Nhật Bản, lúc trưởng thành có cân nặng khoảng 32-55kg và có thể cao 61-71cm.

Shiba Inu

Shiba Inu là giống chó có nguồn gốc từ Nhật Bản, vốn dĩ từ thời Jomon (khoảng 12.000 đến 4.500 năm trước), tổ tiên của chúng được nuôi để làm chó săn. Shiba Inu được mệnh danh là “Bảo vật quốc gia” và cũng là giống chó phổ biến nhất ở “xứ Phù Tang”.

Trong tất cả các loài chó thuộc hàng Nihon Ken, Shiba Inu là dòng chó thuần nhỏ nhất. Khi trưởng thành, Shiba có cân nặng khoảng 7-10kg và cao 40cm.

Chó Shiba thường có màu đỏ, vàng hạt vừng, vàng đen, vàng đỏ hoặc nâu đen. Đặc điểm ngoại hình ấn tượng nhất ở chó Shiba chính là đôi má phính, mõm nhỏ và tai dựng đứng như sói nhưng đôi mắt tròn và hiền lành cùng nụ cười mắt híp. Ấy là chưa kể chiếc đuôi xù bông và cuộn tròn trên lưng trông rất dễ thương. Tuy có khuôn mặt “lừa tình” và cặp chân không dài là vậy nhưng chó Shiba lại có thân hình đẹp và cơ bắp vì loài này rất ham vận động.

Shiba Inu là loài chó thuần Nhật và được thuần hóa từ sớm. Có thể vì thế mà chúng cũng có rất nhiều tính cách y hệt như người dân xứ sở này. Shiba Inu sống rất thân thiện gần gũi với những người xung quanh và trẻ nhỏ, hòa đồng với những con vật nuôi khác trong nhà… đó chính là điều mà giống chó cảnh này đang rất được ưa chuộng.

Chó Shiba rất sạch sẽ. Chúng có thói quen liếm để làm sạch chân và bộ lông của mình mỗi ngày giống như một chú mèo. Bạn sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh một chú chó Shiba điệu đà chọn nơi sạch sẽ để bước đi và tránh những đám chất sình lầy hay bụi bặm trên đường.

Hokkaido Inu

Hokkaido Inu hay còn được gọi với cái tên là “Hokkaido Ken”, chúng có nguồn gốc từ Hokkaido – hòn đảo cực Bắc của Nhật Bản. Hokkaido cũng có tên gọi là “Ainu” vì ngày xưa từng được bộ tộc Ainu thuần hóa để làm chó săn, dám tấn công cả gấu trong trường hợp bức ép hoặc để bảo vệ chủ.

Do sống ở vùng đất có thời tiết khắc nghiệt, Hokkaido Inu có lớp lông bên ngoài dày hơn, bàn chân lớn hơn và đôi tai nhỏ hơn để giúp chúng chống chọi với cái lạnh buốt giá. Một chú chó Hokkaido Inu trưởng thành có cân nặng khoảng 20kg, cao 46-52 cm.

Thông minh, mạnh mẽ và tận tụy là tất cả những đức tính nói về Hokkaido Inu. Chúng được đào tạo để trở thành những con chó săn, có khả năng chăn lợn rừng và thậm chí cả gấu nhỏ. Chính vì vậy, Hokkaido Inu cũng được xem là một giống chó rất mạnh mẽ và có thể tỏ ra hung dữ với những con chó khác. Chúng có sự kết nối bền chặt với chủ nhân và thường đòi hỏi được vuốt ve, cưng nựng.

Kai Ken

Kai Ken còn có tên là “Kai Inu” hay “Tora Inu” vì khi lớn thường có vằn vện (“Tora” trong tiếng Nhật nghĩa là “hổ”). Cũng là giống chó tầm trung như Hokkaido Inu, nhưng “mi nhon” hơn một chút, có thể cao đến 55cm và nặng 4-9kg khi trưởng thành.

Kai Ken được lai tạo để trở thành những kẻ săn thú hoang dã, bao gồm lợn rừng, nai và gà. Giống chó này có nguồn gốc từ các vùng núi của Nhật Bản, chúng tiến hóa rất nhanh với cơ bắp phát triển tốt.

Chúng cực kỳ thông minh, học hỏi nhanh, trung thành và giàu tình cảm, có tính gắn bó bầy đàn cao. Chính vì thế, Kai ken hoàn toàn không lai tạp kể từ khi thuần hóa cho đến tận bây giờ.

Kishu Ken

Kishu Ken là một giống chó săn tương đối hiếm ngay cả ở Nhật Bản. Theo một truyền thuyết ở “xứ Phù Tang” thì Kishu Ken là hậu duệ của loài sói. Loài chó này có nguồn gốc ở khu vực vùng núi phía Tây Nhật Bản, trong phạm vi tỉnh Wakayama, Mie và Nara. Chúng được nuôi với mục đích để trở thành chó săn.

Về tính khí, Kishu Ken thông minh, dũng cảm và độc lập, nhưng cũng bốc đồng hơn các giống chó Nhật khác. Có bản năng săn mồi tự nhiên mạnh mẽ, chính vì vậy người ta thường tránh để chúng ở một mình với những loại vật nuôi nhỏ hơn.

Chó Kishu có kích cỡ trung bình, khi trưởng thành cao tầm 55cm và nặng 25kg, thường mang bộ lông trắng và chiếc mũi khá nhọn.

Chúng cực kì trung thành, đặc biệt có tính cách hiếu động và ham chạy nhảy, có lẽ vì “di truyền” từ giống loài cổ xưa vốn là chó săn đắc lực của các bộ tộc du mục.

Shikoku Ken

Shikoku Ken là một giống chó lai với ngoại hình khá giống chó sói. Tuy nhiên, nhờ vào đặc điểm có một vết lõm dài và nông ở giữa trán khiến giống chó này có ánh mắt rất hiền. Một Shikoku Ken trưởng thành có cân nặng khoảng 15-20kg, cao 43-53cm.

Shikoku Ken được cho là dễ chăm sóc hơn Shiba và Akita vì chúng không bướng bỉnh và thân thiện hơn với những con chó khác. Ngoài ra, đặc tính trung thành, cẩn trọng của Shikoku Ken khiến cho nhiều gia đình Nhật lựa chọn giống chó này để nuôi với mục đích làm bạn và giữ nhà. Đây cũng là giống chó đồng hành tuyệt vời cho những người thích hoạt động ngoài trời.

Kawakami

Kawakami được xem như loài chó hiếm nhất Nhật Bản hiện này vì chỉ còn khoảng 80 cá thể thuần chủng. Là sự kết hợp giữa sói rừng và chó nhà (thường là Shiba), nhằm tạo ra giống chó mạnh mẽ nhưng đáng yêu và dễ thuần hóa. Cái tên “Kawakami” được đặt theo một ngôi làng từng bị cô lập bởi núi cao ở Nagano.

Giống chó Kawakami vốn được xem là “Báu vật sống quốc gia” từ năm 1921, sau đó “mất danh hiệu” vì dòng máu thuần sói yếu dần. Cho đến năm 1982, Kawakami tiếp tục giữ danh hiệu này nhờ nỗ lực của Hiệp hội bảo tồn.

Spitz Inu

Chó Spitz là giống chó Tây được nhân giống ở Nhật Bản. Nặng khoảng 9-11kg, giống chó cỡ trung bình này có đôi tai sắc nhọn, mõm nhô ra và bộ lông mềm, trắng.

Chúng mang nét tính cách hoạt bát, năng động và thích chơi đùa. Bản tính hiếu kì, tăng động khiến nhiều người cảm thấy chúng thật phiền toái, nhưng gần đây những chú chó có nét tính cách trầm tĩnh hơn cũng đang ngày một nhiều hơn. Spitz Inu cũng hết sức thông minh và có trí nhớ rất tốt.

Chin Inu

Chó Chin được số đông người Nhật yêu mến, từ tầng lớp quý tộc đến thường dân. Giống chó này chỉ nặng khoảng 3kg. Đặc trưng của nó là chiếc mõm phẳng đặc biệt và bộ lông dài mượt. Tuy nhiên, khả năng thính giác của chó Chin không thực sự tốt, chúng chỉ thích hợp để làm thú nuôi trong nhà. Loài chó này đặc biệt được yêu mến không chỉ bởi con người mà còn bởi cả những loài chó khác.

Terrier Inu

Đây là giống chó hiếm, đang có nguy cơ tuyệt chủng, thậm chí ngay cả ở Nhật Bản cũng không nhiều người biết đến chúng. Tương truyền rằng vào thời Edo (1603-1868), chúng được các thương nhân Hà Lan mang theo khi đến Nagasaki giao thương.

Terrier Inu là một giống chó rất nhỏ, nặng trung bình 5kg. Chúng có bộ lông ngắn, mượt mà, khả năng chịu lạnh không thực sự tốt. Những chú chó này thường có khuôn mặt đen, trắng hoặc nâu, với phần thân màu trắng.

Giống chó này thường rất hoạt bát và có cũng có phần cảnh giác, song chúng cũng được nhiều người và nhiều loài chó khác yêu mến.

Tosa Ken

Trước đây ở tỉnh Tosa (nay là tỉnh Kochi), người ta đã nhân giống tạo ra loài chó chiến đấu này để phục vụ mục đích thi đấu. Khác với những loài chó Nhật khác, Tosa Ken có cơ bắp cứng cáp, cân nặng lên đến 90kg, bộ da chảy và đôi tai cụp. Vì là chó chiến đấu nên bản năng đấu tranh của chúng rất cao, đặc biệt đối với người lạ, chúng lại càng đề phòng. Tuy nhiên, chúng cũng rất dịu dàng và tình cảm, cũng như trung thành với chủ nhân.

Có lẽ trong tất cả các loài chó của Nhật Bản, Shiba là loài chó phổ biến nhất. Cũng bởi nhiều gia đình nuôi chúng nên sẽ không khó để du khách bắt gặp hình ảnh những chú chó này đang đi dạo. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều loài chó hiếm mà phải rất may mắn du khách mới có thể gặp được chúng. Nhưng dù là giống chó nào thì chúng đều có những nét tính cách và sức hút riêng phải không nào? Hãy du lịch Nhật Bản để khám phá nhiều hơn về những loài chó vô cùng đáng yêu này nhé!

“Nomikai” – Văn hóa nhậu của người Nhật

Người Nhật vẫn thường được biết đến với vẻ ngoài hào nhoáng trên các phương tiện truyền thông. Họ lao động miệt mài, hết mình vì công việc, lịch sự và sạch sẽ… Tuy nhiên, họ cũng có những mặt tối mà truyền thông dường như đã bỏ quên, ví dụ như “Nomikai” – văn hóa nhậu.

Có thể khẳng định rằng người Nhật đặc biệt thích uống rượu mạnh. Việc uống rượu bia cũng đã thấm vào máu người Nhật từ xa xưa và ngày nay nó trở thành một tệ nạn mà nhiều người khó tránh.

Trên thực tế, rất nhiều nhân viên ở Nhật Bản hiện nay buộc phải tham gia những cuộc nhậu sau giờ làm để có thể thăng tiến hoặc tạo mối quan hệ với đồng nghiệp. Cũng vì vậy mà việc nhậu say nằm vật vã ra lề đường hay ga tàu điện ngầm xuất hiện rất nhiều vào mỗi đêm tại các thành phố lớn của đất nước này. Điều đáng nói là từ một thứ đồ uống đơn thuần, rượu bia đang trở thành công cụ để bắt nạt nhân viên mới, đồng thời thành kẻ sát nhân cướp đi tính mạng của hàng nghìn thanh niên Nhật Bản mỗi năm.

Những buổi nhậu toan tính

“Nhậu” là một khái niệm gây nhiều tranh cãi, người ủng hộ nhưng cũng có kẻ phản đối kịch liệt. Bỏ qua những cuộc tranh luận xem nhậu tốt hay xấu, khó ai có thể phủ nhận bàn nhậu giúp người ta giao tiếp tốt hơn. Xoay quanh những ly rượu, cốc bia, họ có đủ chuyện để nói với nhau. Đôi khi, những bức tường ngăn cách cũng có thể gỡ bỏ chỉ sau bữa nhậu.

Đó cũng là lý do thuật ngữ “Nomunication” ra đời. Từ này là sự kết hợp giữa “Nomikai” và “Communication” (giao tiếp). Có thể hiểu, với người Nhật, buổi nhậu “Nomikai” không đơn thuần là bữa ăn. Đó là nơi để đồng nghiệp với đồng nghiệp, sếp với nhân viên hay các đối tác trao đổi, gắn kết nhau.

Về cơ bản, mục đích của Nomikai không xấu. Tuy nhiên, chính sự gắn kết trong bữa nhậu khiến nhiều người gặp áp lực không thể thoát ra. Việc từ chối bữa nhậu không khác gì tuyên bố “tự xa rời tập thể”. Gaijin Blog, trang viết về văn hóa và cuộc sống ở Nhật Bản, cho biết những người không đến các buổi nhậu dễ “bỏ lỡ cơ hội thăng tiến và bị kỳ thị trong công ty”. Vì thế, trong các công ty Nhật Bản, nhân viên kỳ cựu thường truyền tai nhau bí kíp: “Nếu muốn thăng tiến, việc đầu tiên là phải biết uống”. Chủ blog này nhấn mạnh nhiều vị sếp thường sử dụng Nomikai như một cách để đánh giá nhân viên. Thông qua các buổi nhậu, họ có thể nhìn thấy sự tương tác của cấp dưới, những điểm mạnh, điểm yếu cũng dần lộ ra. Quan trọng hơn cả, cách đối xử với sếp của nhân viên cũng có thể bị xem xét và đánh giá chỉ sau bữa nhậu.

Lý do những bữa nhậu có sức nặng như thế cũng một phần vì lối sống nguyên tắc của người Nhật. Trong một công ty, tất cả phải nhất nhất theo quy định. Nhân viên đến đúng giờ, ngồi họp vào đầu ngày. Giờ ăn trưa kéo dài một tiếng, bắt đầu từ 12h. Trong giờ làm việc, bạn phải tập trung tuyệt đối. Shigo (nói chuyện riêng) cần hạn chế ở mức tối thiểu. Sống trong không gian khắt khe như vậy, gây dựng mối quan hệ thân thiết là điều quá khó khăn. Do đó, họ chỉ có thể vui vẻ bên nhau trong những quán nhậu sau giờ làm việc để không ảnh hưởng tới tập thể.

Mua rượu dễ dàng

Tại Nhật Bản, người tiêu dùng có thể tìm mua rượu bia dễ hơn cả kẹo cao su. Chúng được bán tràn lan trong các cửa hàng tiện lợi hay những siêu thị nhỏ mở cửa 24/7. Yêu cầu giấy phép kinh doanh rượu tại “xứ Phù Tang” không có nhiều và người bán hàng chẳng mấy khi kiểm tra độ tuổi của người mua chúng. Bởi vậy, đồ uống có cồn này xuất hiện gần như ở mọi sự kiện trong văn hóa Nhật Bản.

Người Nhật uống rượu bia trên phố, ngoài bãi biển, trong công viên, trên tàu điện ngầm hay bất cứ nơi nào trên đất nước. Thậm chí máy bán hàng tự động rượu bia cũng là loại phổ biến nhất ở Nhật Bản và đương nhiên chúng chẳng thể phân biệt người mua có trên 20 tuổi theo luật định hay không.

Nomikai – nét văn hóa không thể thiếu trong xã hội Nhật Bản

Tại Nhật Bản, những bữa tiệc rượu (hay còn gọi là “Nomikai”) đã trở thành một văn hóa không thể thiếu trong xã hội. Thậm chí người ta còn gọi chúng là “Nomication” để ám chỉ văn hóa xã giao qua những chén rượu.

Trong một xã hội chú trọng phép tắc như Nhật Bản, rượu bia là công cụ dễ nhất để “phá băng” các mối quan hệ cũng như tạo nên sự gần gũi. Người Nhật hoàn toàn có thể lấy cớ say rượu để có những hành động trái quy tắc theo một khía cạnh nào đó nhằm giải tỏa tâm lý hoặc kéo gần thêm quan hệ.

Đặc biệt, nền kinh tế Nhật đang tăng trưởng chậm và người dân gặp đủ vấn đề từ mức lương, việc làm, chăm con, giá cả sinh hoạt cho đến chuyện tình duyên. Một xã hội lịch sự thái quá cũng như văn hóa cứng nhắc khiến nhiều người muốn uống rượu để giải tỏa tâm lý, bởi xã hội chấp nhận những kẻ say làm điều ngu ngốc.

Bên cạnh đó, trái với văn hóa Phương Tây khi các cá nhân có thể tự chủ quyết định khi nào thì nên uống và lúc nào nên dừng, những bữa nhậu tại Nhật hay các quốc gia Châu Á thường mang nặng tính cả nể. Những người tham gia bữa tiệc khó lòng kiểm soát lượng rượu mình uống do bị ép, bị khích hay đơn giản là do “văn hóa” từ xưa là thế.

Những kẻ nát rượu và hệ lụy đi kèm

Chính những điều trên đã tạo nên những kẻ nát rượu ở Nhật Bản. Dù muốn hay không, việc tiêu thụ rượu thường xuyên khiến người Nhật quen với sự hiện diện của đồ uống có cồn và nhiều người lâm vào cảnh nghiện rượu lúc nào không hay. Đi kèm với đó là hàng loạt các chứng bệnh như giảm thị lực, rối loạn tâm lý, bạo hành gia đình, stress…

Tệ hơn, vấn nạn học sinh uống rượu bia tại Nhật Bản đã chẳng còn gì mới bởi xã hội không đặt nặng chuyện này. Trong khi đó, tình trạng bạo hành gia đình ngày một tăng ở Nhật Bản với hơn 9.000 vụ được thông báo đến cảnh sát mỗi năm. Thậm chí bạo hành gia đình chỉ được coi là phạm pháp ở Nhật từ năm 2002.

Đó là chưa kể đến những vụ cưỡng bức, quấy rối tình dục, tự tử,… không được báo với cảnh sát do xã hội không có một cơ chế hay nhận thức bảo vệ các nạn nhân. Phụ nữ uống say bị cưỡng bức tại Nhật Bản vẫn bị xã hội coi là “gái hư” thay vì một nạn nhân cần được bảo vệ.

Điều đáng ngạc nhiên là xã hội và Chính phủ Nhật dường như ngại đề cập đến vấn đề này, hay nói chính xác hơn là họ không muốn thừa nhận mình gặp vấn đề về rượu bia. Báo cáo của Bộ Y tế Nhật Bản cho thấy 1,09 triệu người nước này đang nghiện rượu nhưng chỉ 40% thực sự điều trị, đó là chưa kể đến rất nhiều người nghiện rượu nhưng không nhận ra hoặc không dám thừa nhận vì tính sĩ diện, vì tinh thần “Samurai”.

Một yếu tố nữa khiến nhiều người ngạc nhiên là chính sự an toàn cũng như văn hóa tôn trọng không gian cá nhân, hệ thống giao thông công cộng hiện đại lại đang khiến người Nhật thoải mái say bí tỉ. Sự an toàn khiến con nhậu thoải mái uống tới tận đêm khuya, sự tôn trọng cá nhân khiến họ vô tư ngủ bên lề đường và hệ thống giao thông công cộng thuận tiện khiến họ chẳng cần bị phạt vì lái xe khi say rượu.

Vậy là du khách đã có sự hiểu biết thêm về nét văn hóa Nomikai ở “xứ Phù Tang”. Nếu du khách muốn khám phá thêm về nền văn hóa đặc sắc của đất nước này, hãy book Tour Nhật Bản của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và đầy thú vị!

Tachiyomi – “đứng đọc”, bản sắc văn hóa Nhật Bản

Đặt chân đến Nhật Bản, không khó để du khách bắt gặp hình ảnh người Nhật đứng đọc sách ở bất cứ nơi đâu như ga tàu, hiệu sách, quán cafe,… Đó cũng chính là một phần trong nét văn hóa của người Nhật có tên là “Tachiyomi” (立ち読み) – Văn hóa “đứng đọc”.

Nhật Bản là đất nước có chặng đường lịch sử dài với nhiều cuộc chuyển mình thần kỳ. Tuy là quốc gia bại trận trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, nhưng Nhật Bản đã đứng dậy trên đống tro tàn và một lần nữa dân tộc này lại lập nên kỳ tích vươn mình phát triển trở thành một quốc gia với nền kinh tế phát triển vượt bậc. Động lực cho sự hồi sinh đến kinh ngạc của Nhật Bản không gì khác hơn là đội ngũ trí thức hùng hậu mà đất nước này đã có được từ nhiều thế kỷ theo học phương Tây. Có thể nói, thái độ cầu thị, khiêm nhường và tinh thần ham học hỏi vốn có của người Nhật đã mang lại cho họ một phương tiện vô cùng hiệu quả để tái thiết và dựng xây đất nước – đó là tri thức.

Vì vậy, bất cứ đâu trên đất nước “Mặt trời mọc” như công viên, quán cafe, tàu điện, sân ga, bến đỗ xe bus, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, tiệm sách, tiệm bách hóa,… du khách đều có thể bắt gặp người Nhật đang cầm trên tay một quyển sách và say sưa đọc. Họ đọc say sưa không kể tuổi tác dù là người lớn hay những em bé, họ thích đọc ham học hỏi, ham tìm tòi, có sự kiên nhẫn với từng trang sách.

Bởi trong xã hội công nghiệp hối hả như Nhật Bản và tác phong làm việc với khối việc công việc lớn thì thời gian dành cho nghỉ ngơi không nhiều nhưng người Nhật sử dụng vốn thời gian ít ỏi đó cho việc nghiền ngẫm những cuốn sách. Họ tận dụng những khoảng thời gian trống để đọc sách. Và người nước ngoài rất hiếu kì khi bắt gặp cảnh tượng trên một toa tàu mà các hành khách đều im lặng bởi nhiều người trong số họ đang mải đọc một cuốn sách, hay một tờ báo.

Về phần cửa hàng sách, đặc biệt là các hiệu sách lớn tại Nhật Bản, du khách dễ dàng bắt gặp những hàng người đứng ken cứng quanh các kệ sách, đọc chăm chú từ ít phút đến vài giờ. Hẳn nhiên đôi lúc việc đứng đọc nhiều gây nên những bất tiện không đáng có và đồng thời một số người lợi dụng việc này để đọc miễn phí mà không mua sách. Vì vậy, ở một vài chỗ có thông báo với dòng chữ: “立ち読みをご遠慮ください”, có nghĩa “Hãy vui lòng không đứng đọc!”, nhưng đây lại là điều rất hiếm trong các cửa hàng sách ở Nhật Bản.

Nếu có hạn chế, các hiệu sách thường chỉ hạn chế việc “coi cọp” với các đầu truyện tranh hoặc tạp chí màu cỡ lớn bằng cách bọc plastic, tuy nhiên hầu hết các thể loại khác đều được trưng bày bình thường vì người Nhật nhìn chung có thói quen sử dụng và bảo quản đồ dùng, đặc biệt là sách, rất kĩ lưỡng.

Thực tế, đại đa số người thích sách sẽ không nề hà bỏ tiền mua một cuốn để tự sở hữu, nghĩ theo hướng tích cực, Tachiyomi là một cách để độc giả trải nghiệm trước sản phẩm mình quan tâm trước khi quyết định có bỏ tiền mua nó hay không.

Qua thời gian, Tachiyomi không hề mất đi mà chỉ là được “nâng cấp” thành phiên bản hiện đại và đa dạng hơn, tức mở rộng phương tiện dùng để đọc. Ban đầu, người Nhật phát minh ra những cuốn sách nhỏ gọn chỉ tương đương kích cỡ một gang bàn tay, có thể dễ dàng bỏ vào túi xách hay túi áo. Các cuốn sách nhỏ này có cỡ chữ vừa đủ để đọc trong khi các trang giấy được gia công mỏng tới mức một cuốn vài trăm trang cũng có thể nằm gọn trong lòng bàn tay.

Tiếp đến, người Nhật đọc ebook hay nhật báo trên điện thoại. Trong thư viện các trường đại học, không thiếu những tờ nhật báo được cẩn thận gắn trên những tấm biển đứng, và càng không thiếu những người dừng lại đứng trầm ngâm một lúc để cập nhật tin tức nổi bật trong ngày.

Như thế, nghĩ xa hơn thì Tachiyomi thực tế là một phương pháp cập nhật thông tin nhanh và và quy mô lớn, nếu lượng thông tin đó là tích cực thì sẽ quy đổi thành kiến thức hữu ích. Lượng kiến thức mà độc giả thu thập trong khoảng thời gian đứng đọc khi gộp lại có thể bằng nhiều ngày ngồi nhà đọc sách.

Văn hóa “đứng đọc” hay nhìn rộng hơn là thói quen “đứng” của người Nhật đã trở thành một điểm đặc trưng. Nhiều người có thể đứng chờ nhiều tiếng đồng hồ để chơi một trò chơi trong công viên giải trí, có thể đứng trên tàu lắc lư nhưng không tựa hẳn người vào thành tàu cho đỡ mỏi,…

Dần dần, văn hóa “đứng đọc” đã lan sang các lĩnh vực khác, như: “đứng ăn” (Tachigui), “đứng uống” (Tachinomi), “đứng bán” (Tachiuri). Trong đó, Tachigui phổ biến ở nhiều cửa hàng trong các đô thị lớn bởi điều này giúp giảm diện tích trong bối cảnh mật độ dân số quá cao tại các đô thị này. Chưa kể, Tachigui còn mang lại cảm giác ngầm “ăn nhanh để còn đi”. Hẳn nhiên cũng có một số nơi xem Tachigui và Tachinomi như một phong cách thú vị, điển hình là có không ít các quán bar đứng sang trọng và độc đáo tại Nhật Bản.

Có thể nói, người Nhật đã được luyện thói quen đứng từ bé. Việc tập “đứng” phản ánh sự kiên nhẫn nổi tiếng của đại đa số người dân Nhật cả trước đây lẫn bây giờ, hay ở một khía cạnh khác là phản ánh nhịp sống vội vã của người Nhật với phong cách tiết kiệm thời gian tối đa, hoàn thành được nhiều việc hết mức có thể trong khoảng thời gian ngắn nhất.

Vậy là du khách đã có sự hiểu biết thêm về nét văn hóa Tachiyomi ở “xứ Phù Tang”. Nếu du khách muốn khám phá thêm về nền văn hóa đặc sắc của đất nước này, hãy book Tour Nhật Bản của chúng tôi nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và đầy thú vị!

Du khách đã từng nghe qua 26 luật lệ kỳ lạ ở Nhật Bản?

Nhật Bản là một quốc gia tồn tại một số thói quen khá khó hiểu, giả như vừa đi vừa ăn được coi là bất lịch sự, thậm chí mệt mỏi mà “nhỡ” gục đầu vào vai người khác trên tàu điện cũng là một nguyên nhân khiến người khác khó chịu. Song song với những thói quen này, “xứ Phù Tang” cũng có vài luật lệ khá kỳ quặc khiến khách du lịch nước ngoài phải “quay tít thò lò”.

1. Ép ai đó uống rượu là bất hợp pháp

Trong các Nomikai (tiệc nhậu), các sếp và đồng nghiệp thường là những nhân vật chính. Áp lực từ bạn bè, không dám từ chối cấp trên… là những lý do phổ biến khiến người Nhật phải uống bia rượu dù không muốn.

Những điều này có thể được coi là “quấy rối bằng quyền lực”. Vì vậy, để bảo vệ người lao động Nhật Bản, điều luật này đã được thông qua. Cũng chính vậy mà số lượng các buổi nhậu nhẹt tương tự đã giảm đáng kể.

2. Uống rượu trên đường phố là hợp pháp

Không giống như nhiều quốc gia khác đang từ hạn chế đến cấm đoán việc uống rượu bừa bãi ngoài đường phố hoặc nơi công cộng, Nhật Bản cho phép người dân được sử dụng đồ uống có cồn ngay cả khi không phải trong nhà hàng, quán ăn. Bằng chứng là có rất nhiều máy bán hàng tự động có bán bia và rượu Sake đặt ngoài đường, cũng như người Nhật có một lễ hội tên Hanami, ở đó mọi người sẽ tụ tập dưới gốc cây anh đào để ngắm hoa, thưởng rượu.

Tuy nhiên, lạt mềm thì buộc chặt, đã cho uống thoải mái thì phải có trách nhiệm, đừng mượn rượu làm càn, “hóa thú”, phá làng phá xóm là được.

3. Được hút thuốc ở bên trong tất cả quán xá nhưng không được hút thuốc ngoài đường

Nhật Bản có giá bán lẻ thuốc lá vào loại rẻ nhất trên thế giới, vì vậy việc người Nhật phì phèo điếu thuốc trên tay không hiếm gặp. Phần lớn các quán ăn, quầy bar từ nhỏ đến sang trọng đều cho phép khách hàng được hút thuốc trong không gian nhà hàng, và chỉ bên trong mà thôi.

Theo tờ JapanTimes, một số điều luật mới được ban hành ở quốc gia này cấm việc người dân hút thuốc bên ngoài ở các thành phố lớn. Các quán ăn, nhà hàng giờ cũng bắt đầu xây dựng khu vực riêng cho những người hút thuốc và không hút thuốc. Vì thế, du khách đừng nghĩ rằng có thể cầm điếu thuốc lá đi tung tẩy từ trong quán ra ngoài đường, khả năng bị phạt là rất cao đấy.

4. Người chế biến cá nóc cần phải có giấy phép hoặc giấy chứng nhận

Bất kỳ ai cũng cần phải có giấy phép hoặc giấy chứng nhận của cơ quan chức năng trước khi được là người chế biến cá nóc. Chất độc có trong thịt cá nóc khiến Chính phủ Nhật Bản luôn dè chứng với loại thực phẩm “kén” người chế biến này. Cá nóc tuy rất bổ, nhưng không bao giờ được cho vào thực đơn của Nhật hoàng.

5. Không được pha rượu, làm nồng độ cồn nặng hơn khi uống ở nhà

Bạn không được pha rượu, làm nồng độ cồn nặng hơn khi uống ở nhà, dù chỉ là 1%. Nồng độ của rượu, bia đã được Chính phủ và nhà sản xuất quy định nghiêm ngặt.

6. Có thể bị bỏ tù vì bỏ kem vào hộp thư

Bỏ kem vào hộp thư nghe có vẻ như một trò đùa vô hại, nhưng ở Nhật Bản, bạn có thể bị phạt tù tới 5 năm hoặc bị phạt tối đa 500.000 Yên nếu làm như vậy.

Năm 2006, một người đưa thư 42 tuổi đến từ tỉnh Saitama đã bị bắt vì để kem chocolate bên trong hộp thư. Vì vậy, điều 78 của Luật Bưu chính ra đời nhằm bảo vệ tất cả các tài sản bưu chính khỏi những hư hại không đáng có.

7. Một số loại thuốc kê đơn hợp pháp trên thế giới nhưng lại bị coi là bất hợp pháp tại Nhật Bản

Luật pháp Nhật Bản cho phép du khách mang nhiều thuốc theo người, kể cả số lượng có nhiều đến mức đủ dùng trong tận 2 tháng cũng không sao. Tuy nhiên, quốc gia này nghiêm cấm các loại thuốc có thành phần chứa chất kích thích (chất pseudoephedrine), vì vậy các loại thuốc xông xoang, thuốc chống dị ứng và các chất giảm đau sẽ không được phép mang vào Nhật Bản.

Thế nhưng vấn đề là rất khó để biết được loại thuốc nào được mang, loại thuốc nào bị cấm khi phía Nhật Bản vẫn chưa cung cấp rõ ràng bảng phân loại thuốc của họ. Giải pháp cho vấn đề này là, nếu du khách có mang thuốc theo người, hãy nhớ mang kèm tờ kê đơn của bác sĩ giải thích rõ công dụng, mục đích của loại thuốc ấy.

8. Người lái xe sẽ bị phạt nếu té nước mưa vào người đi bộ

Hẳn ai cũng một lần trải qua cảm giác bị những chiếc xe phóng nhanh hắt nước mưa đọng trên đường vào người. Ở “xứ Phù Tang”, việc lái xe bất cẩn như vậy không được chấp nhận và người lái xe có thể bị phạt tới 7.000 Yên.

Luật cũng quy định rằng các phương tiện phải lắp các tấm chắn bùn hoặc chạy chậm hơn khi trời mưa để không bị ảnh hưởng đến sự an toàn của người đi bộ.

9. Bị phạt tiền nếu không không báo cáo một vụ cháy cho cảnh sát

Tại Nhật Bản, bạn hoàn toàn có thể bị phạt số tiền lên tới 10.000 Yên vì việc không báo cáo một vụ cháy cho cảnh sát. Việc truy tội sẽ không áp dụng với tất cả mọi người, trừ phi bạn là chủ nhà hay hàng xóm sát vách nơi xảy ra vụ cháy. Tại đây, kiến trúc nhà bằng gỗ rất phổ biến. Nếu như bạn không báo cháy kịp thời thì hậu quả thực sự khó lường.

10. Không thể đổ rác quá sớm

Trước hết, bạn cần phân loại rác tại nhà và thực hiện nghiêm túc “3R”- tạm dịch là tái chế, giảm thiểu rác và tái sử dụng. Ngoài ra, có một số quy định liên quan đến rác như: bạn chỉ được mang rác ra xe bán tải vào những ngày được chỉ định.

Việc đem rác ra trước khi xe thu gom tới không hữu ích lắm ở Nhật Bản, vì theo họ điều này có thể dẫn dụ gấu trúc hoang tới lục phá thùng rác. Ngoài ra, để rác trước nhà có nguy cơ hỏa hoạn.

11. Chuyển thư hàng xóm của bạn bị sai địa chỉ cho họ là bất hợp pháp

Điều 42 của Luật Bưu chính được đưa ra để bảo vệ quyền riêng tư của cả người gửi và người nhận. Vì vậy, chuyển thư của hàng xóm cho họ khi nó tình cờ xuất hiện trong hộp thư của bạn là bất hợp pháp – một điều luật kỳ lạ ở Nhật Bản chẳng mấy ai tin.

Nếu có lá thư lạ nào đi lạc vào hộp thư nhà bạn, hãy gửi lại và để bưu điện xử lý. Tội trạng này không quá nghiêm trọng, bạn có thể không bị buộc tội vì đưa trả thư cho hàng xóm (trừ khi họ cố tình gây hấn với bạn).

12. Vợ chồng sống riêng là bất hợp pháp trừ khi có “lý do chính đáng”

Trừ khi có lý do chính đáng (công việc, sức khỏe…), vợ chồng được quy định là phải ở cùng nhau nhằm đảm bảo họ san sẻ chi phí sinh hoạt và ngăn tỷ lệ ly hôn do thời gian ly thân kéo dài.

13. Phụ nữ Nhật Bản sau khi ly hôn, buộc phải đợi 6 tháng rồi mới được kết hôn lại

Điều này đã được cụ thể hóa trong luật chứ không chỉ ràng buộc theo truyền thống hay phong tục nào. Ngoài ra, trong 6 tháng này, nếu người phụ nữ sinh con thì người con sẽ là con hợp pháp của chồng cũ. Việc ly hôn cũng phải được tổ chức thành buổi lễ và được nhiều người chứng kiến bằng nghi thức đập nhẫn cưới.

14. Phụ nữ không được phép đến Đền Ominesanji

Núi Omine là tên gọi chung cho các ngọn núi Sanjogatake, Inamuragatake, Daifugendake, Misen, Hakkyogatake. Trong đó, trên đỉnh Sanjogatale có một ngôi chùa cổ đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới năm 2004.

Tuy nhiên, trong hàng thế kỷ qua, phụ nữ đã hoàn toàn bị cấm lên tham quan ngọn núi và ngôi chùa linh thiêng này, nguyên nhân là để tránh “gây phâm tâm”.

Ngày nay, việc phân biệt đối xử đã không còn như trước nữa nhưng luật lệ ở đỉnh Sanjo này vẫn không hề thay đổi. Ở trước đường dẫn lên đỉnh núi nhà chùa thậm chí còn có một tấm biển ghi rõ luật lệ này.

15. Phụ nữ không được phép đặt chân lên Đảo Okinoshima

Đảo Okinoshima nằm ở Kyushu được công nhận là di sản văn hóa thế giới vì những giá trị lịch sử to lớn mà hòn đảo đang mang trong mình. Theo luật lệ, người đến đảo có thể mang đồ vật vào cúng lễ nhưng không được mang ra khỏi đảo bất cứ vật gì cho dù là một hòn đá. Không chỉ vậy, nơi đây còn một nguyên tắc đó là đối với nam giới, phải tắm rửa sạch sẽ trước khi lên đảo còn phụ nữ bị cấm lên đảo.

16. Phụ nữ không được phép bước vào võ đài thi đấu Sumo

Thêm một luật lê kỳ lạ nữa là phụ nữ không được phép bước vào võ đài thi đấu Sumo vì sẽ làm “vấy bẩn võ đài”. Cho dù ngày nay Sumo cũng dành cho cả phái nữ nhưng họ chưa bao giờ được công nhận là những võ sĩ chuyên nghiệp. Luật cấm này đã có truyền thống qua nhiều thế kỷ và không ai muốn thay đổi vì không muốn xúc phạm tới tổ tiên. Nhưng đối với những cô gái có niềm đam mê với bộ môn đấu vật thì đó lại là điều giết chết đi ước mơ của họ.

17. Phụ nữ không được ở trong một số khách sạn con nhộng

Dịch vụ khách sạn con nhộng hiện tại đã xuất hiện tại nhiều thành phố ở Việt Nam và đối tượng phục vụ cả nam lẫn nữ. Nhưng tại Nhật Bản, đối tượng hướng tới là các doanh nhân nam, mặc dù ngày nay có một số khách sạn con nhộng cho phép du khách nữ thuê. Nhưng vẫn rất ít phụ nữ đến khách sạn kiểu này vì phải đến 99/100 lần họ bị từ chối phục vụ.

18. Công nhận đứa trẻ là công dân Nhật Bản khi được sinh ra ngoài giá thú với bố là người Nhật

Nếu một đứa trẻ được sinh ra ngoài giá thú với bố là người Nhật Bản, mẹ là người ngoại quốc, thì người cha phải chính thức công nhận đứa trẻ là công dân Nhật Bản ngay từ khi nó còn trong bụng mẹ. Nếu không, người cha cũng phải công nhận và “thu nạp” đứa con đó là người Nhật Bản trước khi nó đủ 20 tuổi. Điều này dễ hiểu phần nào khi Nhật Bản là đất nước vô cùng nhân văn, ngoài ra dân số “già” cũng là điều hối thúc các nhà làm luật tôn trọng “dòng máu Nhật Bản” mà bất kỳ đứa trẻ nào mang trong mình.

19. Công dân Nhật Bản trong độ tuổi từ 40 đến 74 phải đo vòng eo hàng năm

Là một phần của Luật Metabo năm 2008, Chính phủ sẽ kiểm tra vòng eo của công dân sau khi họ bước sang tuổi 40 nhằm đảm bảo họ luôn khỏe mạnh. Giới hạn vòng eo đối với nam là 85,09cm và 89,92cm đối với nữ.

Các công ty thậm chí còn sắp xếp các khóa học giảm cân để giúp những nhân viên khỏe mạnh, cân đối. Vì Nhật Bản là quốc có dân số già nên, người cao tuổi cần phải thật khỏe mạnh nếu không muốn trả một lượng phí khổng lồ để chăm sóc sức khỏe.

20. Công ty bảo hiểm quốc gia sẽ không trả tiền cho thân nhân của người tự tử

Nếu bạn tự tử, các công ty bảo hiểm quốc gia sẽ không trả tiền cho thân nhân của bạn. Điều luật này bám sát thực tế, khi Nhật Bản là một trong những quốc gia có số lượng các vụ tự tử vì khủng hoảng tinh thần, trốn nợ cao nhất thế giới.

21. Cấm dùng đồng xu để làm mặt xây chuyền

Ở Nhật Bản, rất khó để chúng ta bắt gặp những mặt dây chuyền có xâu đồng xu. Vì ở đây có điều luật cấm không được làm hỏng, phá hoại hoặc vứt bỏ tiền tệ. Nếu bị bắt quả tang, bạn sẽ bị phạt tới 200.000 Yên, hoặc phạt tù 1 năm.

22. Người nước ngoài buộc phải mang theo hộ chiếu 24/7

Chính phủ Nhật Bản cho phép lực lượng cảnh sát có quyền dừng bất cứ người nước ngoài nào lại để kiểm tra hành chính. Bởi vậy, khi đến Nhật Bản, vật bất li thân của du khách ngoài quần áo, tiền bạc còn có hộ chiếu để chứng minh thân thế của mình. Nếu khi bị kiểm tra đột xuất mà không mang hộ chiếu, rất có thể du khách sẽ được thử cảm giác bị tạm giữ mà chẳng làm điều gì sai ngoại trừ đãng trí.

23. Công dân Nhật Bản cần thông báo cho Chính phủ trước khi đến Nam Cực

Hầu hết mọi người không cần thông báo cho Chính phủ về điểm đến kỳ nghỉ tiếp theo của họ. Nhưng ở Nhật Bản, công dân cần phải làm vậy nếu muốn du lịch đến Nam Cực. Vốn là vào năm 1997, Nhật Bản đã ký Hiệp ước Nam Cực nhằm giữ nơi này an toàn trước tác hại của môi trường. Vì thế, Nhật Bản hạn chế công dân tham gia vào các hoạt động có thể khiến hiệp ước bị phá vỡ.

24. Có thể bị ngồi tù tới 29 ngày nếu để lộ đùi hoặc mông nơi công cộng

Những chiếc váy ngắn là trang phục khá được ưa chuộng với phụ nữ Nhật. Tuy vậy, việc để lộ đùi hoặc mông nơi công cộng là vi phạm pháp luật theo một đạo luật được thông qua năm 1948. Hầu hết mọi người không biết về quy tắc này và nó hiếm khi được thi hành.

25. Sở hữu máy bộ đàm mua từ quốc gia khác là bất hợp pháp

Mang theo máy bộ đàm khi du lịch Nhật Bản có thể hơi kì quặc. Nhưng nếu khách du lịch có ý định cho nó vào hành lý, hãy nghĩ lại.

Nhật Bản phụ thuộc rất nhiều vào mạng lưới phát thanh để chuyển tiếp những thông tin quan trọng. Máy bộ đàm nước ngoài của du khách có thể khiến mạng lưới trở nên lộn xộn vì nhiễu sóng. Nếu không tuân thủ luật này, du khách có thể bị phạt tù 1 năm hoặc phạt tiền lên đến 1.000.000 Yên.

26. Thưởng cho người tham gia vận động bầu cử cho một Đảng thành công

Nếu tham gia vận động bầu cử cho một Đảng thành công, những người này sẽ được Đảng đó “hoàn trả” 12.000 yên cho một kỳ nghỉ ở khách sạn, 3.000 Yên cho tiền ăn uống và 500 Yên cho đồ ăn nhẹ mỗi ngày nghỉ. Họ cho rằng, những người dân tham gia ủng hộ đã giúp họ có được chiến thắng và vinh quang này, vì vậy họ xứng đáng được trả công.

Văn hóa Nhật Bản rất đặc sắc nhưng ẩn trong nó là vô số nhiều phong tục tập quán mà người nước ngoài như chúng ta không thể hiểu được, điển hình là những luật lệ kỳ quặc ở trên. Tuy vậy, nếu chúng đã trở thành những luật lệ thì khi tới du lịch Nhật Bản, du khách cần lưu ý tránh mắc phải, nếu không sẽ bị phạt tiền một cách oan uổng, thậm chí phải đi “bóc lịch”.

Nghệ thuật trang điểm của phụ nữ Nhật Bản

Phụ nữ Nhật theo đuổi chuẩn mực của cái đẹp tự ngàn xưa. Ở mỗi thời đại lại là một câu chuyện thú vị. Cho đến nay, khi xu hướng làm đẹp đã thay đổi rất nhiều, câu chuyện về lịch sử làm đẹp của người Nhật vẫn chứa sức hút mãnh liệt đối với nhiều nhà làm nghiên cứu và thời trang.

“Đẹp” chính là mong muốn chung của phụ nữ ở mọi thời đại. Từ xa xưa, phụ nữ Nhật Bản luôn được cả thế giới biết đến với vẻ đẹp tự nhiên và thuần khiết. Mặc dù các xu hướng đã thay đổi rất nhiều theo thời gian, tuy nhiên ẩn sâu trong phong cách hiện đại của các tín đồ thời trang ở “xứ sở mặt trời mọc” vẫn luôn chứa đựng những nét đặc trưng trong văn hóa làm đẹp của người Nhật xưa.

Theo ghi chép trong các biên niên sử được gọi là “Kojiki” (ghi chép về các vấn đề cổ đại) và “Nihon Shoki” (cuốn sách cổ thứ hai của lịch sử cổ điển Nhật Bản), ngay cả trong thời cổ đại, các phong tục làm đẹp đặc trưng như vẽ mặt bằng sắc tố đỏ đã tồn tại. Các hình thức trang điểm từ thời xa xưa đã khá đa dạng, màu má và phấn phủ cũng đã du nhập vào Nhật Bản từ rất lâu cùng với làn sóng văn hóa từ Trung Quốc và Hàn Quốc.

Nhiều tài liệu cho rằng loại bột đắp mặt đầu tiên của Nhật Bản được sản xuất bởi một thầy tu Phật giáo. Vị thầy tu này đã dâng lên Hoàng hậu Nhật Bản phát minh của mình và nhanh chóng nhận được lời khen ngợi và sự tin dùng trong hoàng gia. Đây cũng là một trong những nền móng đầu tiên đưa Nhật Bản trở thành một trong những thị trường mỹ phẩm lớn trên thế giới.

Răng đen là biểu tượng của vẻ đẹp và sự tự do

Trong thời kỳ Heian (794-1185), các sản phẩm làm đẹp của Nhật Bản đã thoát khỏi ảnh hưởng của các mô hình Trung Quốc và tạo ra một phong cách thẩm mỹ riêng biệt. Xu hướng làm đẹp lý tưởng của phụ nữ thời đó là tóc dài thẳng, mặt đánh phấn trắng, lông mày tô đậm và răng đen nhánh. Thời kỳ này, hầu hết trang điểm vẫn chỉ dành cho giới thượng lưu.

Ohaguro – phong cách nhuộm răng đen nhánh được coi là biểu tượng sắc đẹp ở Nhật Bản suốt nhiều thế kỷ sau đó. Các chuyên gia cho rằng, một trong những lý do chính khiến Ohaguro phổ biến là do trong hàng trăm năm, những thứ “đen như mực” ở Nhật Bản được coi là đẹp hoàn hảo. Và hướng đến cái đẹp là lẽ tự nhiên của con người, giống như việc tẩy trắng răng của thời hiện đại.

Sự hòa quyện hoàn hảo của đỏ, trắng và đen

Vào đầu thời kỳ Edo (1600-1868), sử dụng mỹ phẩm và trang điểm bắt đầu phổ biến trong đời sống của người dân Nhật Bản. Trong thời kỳ này, mỹ phẩm thường tập trung vào bảng màu gồm 3 màu cơ bản: đỏ (son môi, sơn móng tay), trắng (phấn phủ mặt được gọi là “Oshiroi”) và đen (bôi đen răng, chì kẻ mày). Phấn phủ trắng được sử dụng để tạo ra một làn da trắng hoàn toàn, nổi bật trên đó là môi được tô đỏ thắm thường được tô nhỏ hơn so với hình dạng môi tự nhiên, lông mày và răng được tô đen nhánh.

Phụ nữ thời kỳ này đặc biệt quan tâm đến việc thoa bột lên mặt để tạo nên một làn da hoàn mỹ, làn da trắng như bột được coi là “biểu tượng của một người phụ nữ đẹp”.

Vào thế kỷ 17, thời đại Edo, khi nền hòa bình được duy trì trên toàn thế giới, thì xu hướng trang điểm nhẹ nhàng lên ngôi, phụ nữ Nhật bắt đầu ý thức cao hơn về việc giữ gìn vẻ đẹp thật sự của làn da trần. Phương pháp sử dụng phần cám gạo rơi ra trong công đoạn tách cám gạo lứt như một loại nguyên liệu rửa mặt chính là ví dụ điển hình cho nền văn hóa lúa gạo ở Nhật Bản. Ngoài ra, dưỡng da bằng Keshousui (một dạng Lotion của Nhật Bản) làm từ trái mướp là hình thức rất phổ biến. Cám gạo và mướp đều là những nguyên liệu quen thuộc trong sản phẩm dưỡng da ngày nay. Những “người bạn” thân thiết của làn da quả là không thay đổi dù là xưa hay nay. Ngày nay, vô vàn các loại sữa rửa mặt được bày bán, các loại sách hướng dẫn cách pha chế tinh chất làm đẹp, dưỡng trắng da, hay cách rửa mặt sao cho da căng bóng, rõ ràng, ý thức giữ gìn vẻ đẹp làn da ngày càng được nâng cao.

Đến cuối thời Edo, son môi màu đỏ đậm cũng trở nên ngày càng thịnh hành, các chất màu được tạo ra từ hoa nghệ tây tươi trở nên đắt đỏ đến mức được ví như vàng.

Sự du nhập của văn hóa làm đẹp kiểu Tây phương

Vào thế kỷ 19, thời đại Minh Trị, Nhật Bản hướng đến mục tiêu hiện đại hóa và lần lượt tiếp nhận nhiều văn hóa của phương Tây. Trong những vật phẩm du nhập từ các nước Âu Mỹ, có thể kể đến phấn trang điểm có màu gần giống với nước da người Nhật Bản, xà phòng và kem dưỡng da. Đây là thời đại mà kiểu trang điểm nền với tông màu da tự nhiên dần thay thế kiểu bôi trắng toát cả gương mặt vốn thịnh hành từ trước đến nay, chứng tỏ một làn da mộc đẹp tự nhiên chiếm nhiều sự ưu ái hơn hẳn. Cách dưỡng da cơ bản vào thời này là rửa mặt để lấy đi bụi bẩn, cung cấp độ ẩm cho da bằng Keshousui, sau đó dưỡng ẩm da bằng kem chứa nhiều dưỡng chất. Có vô số các loại kem như kem dùng để mát-xa, kem tẩy trang, kem lót trang điểm,… và là món mỹ phẩm ước ao của nhiều cô gái Nhật. Bên cạnh đó, khoảng nửa sau thời đại Meiji, các cơ sở chăm sóc sắc đẹp xuất hiện và trở thành tâm điểm chú ý của các cô gái sành điệu. Do phí chăm sóc khá đắt đỏ nên loại hình này chỉ phổ biến đối với một bộ phận nhỏ thuộc giới thượng lưu. Tuy nhiên, có thể nói, nền công nghiệp sắc đẹp Nhật Bản đã phát triển từ 100 năm về trước.

Bước tiến trong cách trang điểm với phong cách nhẹ nhàng và tự nhiên

Đầu thế kỷ 20, theo dòng phát triển hiện đại của xã hội, xu hướng trang điểm của phụ nữ Nhật cũng dần chuyển sang phong cách nhẹ nhàng và đề cao sự thuận tiện nhiều hơn. Ngoài màu trắng và đỏ truyền thống, phấn phủ và son môi bắt đầu có nhiều màu sắc nhẹ nhàng hơn.

Từ năm 1910 trở đi, ngành công nghiệp mỹ phẩm của “xứ Phù Tang” bắt đầu chịu ảnh hưởng nhiều từ văn hóa phương Tây, đặc biệt sau Thế chiến thứ hai cùng với làn sóng tạp chí và phim ảnh của Mỹ. Thời kỳ này, các sản phẩm chăm sóc da cũng xuất hiện nhiều hơn trên thị trường.

Vào nửa đầu thế kỷ 20, phụ nữ Nhật dần tiến thân vào xã hội. Nếu trước đây, trong xã hội Nhật Bản, phụ nữ luôn gắn liền với hình ảnh những bà nội trợ thì giờ đây, họ đã bắt đầu tạo dựng nên sự nghiệp riêng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Trang điểm và thời trang được xem như một trong những chuẩn mực cần có khi giao tiếp và dần trở nên được chú trọng hơn. Đối với mỹ phẩm dưỡng da, Keshousui và kem là những nhu yếu phẩm. Bên cạnh đó, vào thời gian này, sản phẩm và phương pháp dưỡng da phân chia theo mùa, độ tuổi và loại da như da khô hay da dầu bắt đầu được phổ cập. Ngoài ra, cùng với sự xuất hiện của loại kem nền chứa dầu, vốn dành cho người da nhờn hay nhiều mồ hôi, sản phẩm tẩy trang dạng kem cũng ra đời. Khi Nhật Bản bước vào thời kỳ chiến tranh, con đường đến với việc làm đẹp trở nên xa xôi hơn, tuy nhiên, cùng với công cuộc tái thiết sau chiến tranh, một lần nữa, ý thức về cái đẹp của phụ nữ Nhật lại trở nên cao hơn bao giờ hết.

Bước vào thời kỳ hậu chiến, một lần nữa, thị trường làm đẹp Nhật Bản lại trở nên nhộn nhịp. Cùng với sự phát triển của ngành kỹ thuật sắc đẹp, hàng loạt mỹ phẩm có bổ sung các chức năng tiên tiến như làm trắng, dưỡng ẩm sâu, chống lão hóa hay chăm sóc da mụn,… lần lượt ra đời. Nhiều phong cách trang điểm lần lượt lên ngôi, như phong cách của ngôi sao Andrey Hepburn, da nâu hay tỉa mảnh chân mày,… và hiện nay là xu hướng “trang điểm tự nhiên”. Phong cách này được nhiều người ưa chuộng với làn da với lớp trang điểm mỏng nhẹ như da thật, đường nét chân màu, màu phấn mắt, màu son cũng rất tự nhiên.

Ngày nay, Nhật Bản đã trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu thị trường mỹ phẩm và sản phẩm làm đẹp trên toàn thế giới. Ngành công nghiệp mỹ phẩm của “xứ Phù Tang” đã khẳng định được vị thế vững chắc và được toàn cầu đón nhận.

Mặc dù khuôn mặt trắng bột của thời Edo không còn tồn tại cho đến ngày nay và chủ yếu được tái hiện trên sân khấu, nhưng làn da trắng đẹp vẫn là một vẻ đẹp lý tưởng quan trọng đối với nhiều người Nhật. Đây cũng chính là chân lý làm đẹp đã tồn tại ở Nhật Bản từ thời xa xưa, không chịu bất kỳ ảnh hưởng nào của phương Tây.

Con người và văn hóa “xứ Phù Tang” quả thực có quá nhiều điều thú vị thu hút khách du lịch trên thế giới tìm đến khám phá và trải nghiệm. Nếu du khách có hứng thú với con người và nền văn hóa đặc sắc ở nơi đây, hãy Book Tour Nhật Bản của chúng tôi nhé!

Khăn ướt Oshibori trong văn hóa thể hiện lòng hiếu khách của người Nhật

Trong nhà hàng, quán bar, sân bay, và thậm chí trên các chuyến tàu đường dài ở Nhật Bản, du khách có thể dễ dàng bắt gặp những chiếc khăn ướt Oshibori. Những chiếc khăn này, ngoài việc vượt xa công dụng làm sạch cơ bản (lau mặt, tay), nó còn trở thành dấu hiệu thể hiện lòng hiếu khách của người Nhật. 

Oshibori là một chiếc khăn trắng nhỏ đã được ngâm trong nước sạch (lạnh hoặc nóng). Sau đó, khăn được vắt ở mức độ vừa phải, không nhỏ giọt nhưng vẫn còn ẩm và được gấp hoặc cuộn lại, rồi cho vào túi ni lông hoặc hộp để giữ ẩm trước khi sử dụng.

Từ “Oshibori” được cho là bắt nguồn từ từ “Shiboru”, nghĩa là “vắt”. Ở một số vùng của “xứ Phù Tang”, người dân sử dụng từ O-tefuki có nghĩa là “khăn tay thông thường” thay cho từ Oshibori.

Về cơ bản, khăn Oshibori được chia ra làm 3 loại với công dụng khác nhau:

Khăn Oshibori nóng: Loại khăn này thường được phục vụ trong suốt mùa đông lạnh giá. Dùng khăn làm ấm mặt sau khi bước từ ngoài trời vào mang lại cảm giác dễ chịu. Theo các chuyên gia Yoga, khăn nóng khiến mắt được thư giãn và thúc đẩy tuần hoàn nếu đặt lên đầu hoặc mặt. Thông thường, khăn nóng có tác dụng cơ bản tuyệt vời là lau tay. Nhiệt độ ấm còn tiêu diệt được một số vi khuẩn.

Khăn Oshibori lạnh: được sử dụng trong suốt mùa hè nóng, ẩm của Nhật Bản. Khăn lạnh đem lại sự sảng khoái cho khách du lịch đường dài, đó là lý do tại sao nó thường được các hãng hàng không và tàu hỏa ưa chuộng. Các khách sạn cũng phục vụ khăn lạnh như một cử chỉ chào đón. Ngoài tác dụng làm mát, tạo sự sảng khoái, khăn lạnh cũng giúp tăng cường tuần hoàn trong cơ thể. Nó có thể giúp giảm căng thẳng do nóng, giảm sốt và thậm chí cả những cơn bốc hỏa.

Oshibori dùng một lần: Loại khăn này không được làm từ vải bông thông thường. Vật liệu phổ biến trong sản xuất loại khăn này là giấy. Hiện nay, người ta ngày càng lo ngại về khả năng lây bệnh vì dùng khăn ướt đã qua sử dụng. Đó là lý do một số nhà hàng và khách sạn cung cấp Oshibori dùng một lần cho khách để đảm bảo vệ sinh.

Việc phục vụ Oshibori cho khách không phải là tập tục xuất hiện gần đây, mà có từ thời Edo. Oshibori được trao cho khách quý như một phương tiện thể hiện lòng hiếu khách. Khách có thể sử dụng để lau tay hoặc lau mặt vào mùa hè (khăn mát) lẫn mùa đông (khăn nóng).

Vào đầu những năm 1600, Oshibori đặc biệt phổ biến trong các quán trà. Nó được dùng làm quà tặng cho những vị khách ghé quán nghỉ ngơi sau một chặng đường dài. Cử chỉ ấm lòng này đã lan rộng khắp Nhật Bản và tồn tại suốt nhiều thế kỷ tiếp theo. Ngày nay, nó được coi là một trong những tiêu chuẩn của lòng hiếu khách tại bất cứ cơ sở dịch vụ nào của Nhật Bản.

Cũng giống như bất kỳ phong tục xã hội nào ở Nhật Bản, có những điều nên làm và không nên làm khi sử dụng khăn Oshibori:

Du khách có thể dùng Oshibori để lau mặt trong một chuyến bay hoặc một chuyến tàu đường dài. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng không được dùng Oshibori để lau cổ hoặc sau vành tai. Hành động này được người dân địa phương coi là bất lịch sự vì chiếc khăn chỉ dành để lau miệng và các ngón tay.

Oshibori thường được giặt sạch và sử dụng lại, nên nhiều người không hài lòng khi nó được dùng cho những bộ phận cơ thể mà họ cho là không phù hợp.

Ngoài ra, còn một lưu ý khác là không sử dụng Oshibori để lau đồ bị tràn ra ngoài vì lợi ích của người dùng tiếp theo. Có một mẹo nhỏ là ngửi khăn trước khi sử dụng, nếu nó có mùi lạ thì không nên dùng.

Khi dùng xong Oshibori, du khách có thể đặt nó trên bàn hoặc vào khay rỗng. Nhân viên nhà hàng sẽ dọn sau khi thấy khách hàng đặt khăn xuống. Thông thường, cuối bữa ăn nhà hàng sẽ phục vụ khăn mới.

Với người Nhật, cách đối xử với khách phản ánh sự tôn trọng mà họ dành cho khách. Thể hiện sự ân cần và đối đãi bằng cả tấm lòng cũng như thể hiện sự tôn trọng đối với người khác. Trong văn hóa Nhật Bản, sự tôn trọng là một trong những cột trụ chính của xã hội hiện tại.

Ngày nay, người Nhật càng coi trọng sự hiếu khách vì đây là một trong những vũ khí chính để thu hút khách du lịch gần xa. Khi khách cảm thấy được chào đón và chăm sóc chu đáo, họ sẽ thấy được nét đẹp của xã hội Nhật Bản và muốn quay trở lại, cũng như giới thiệu cho người khác.

Văn hóa “xứ Phù Tang” quả thực có quá nhiều điều thú vị thu hút khách du lịch trên thế giới tìm đến khám phá và trải nghiệm. Nếu du khách có hứng thú với nền văn hóa đặc sắc này, hãy Book Tour Nhật Bản của chúng tôi nhé!

Saigo Takamori – Võ sĩ Samurai cuối cùng của “xứ Phù Tang”

Saigo Takamori là huyền thoại Samurai cuối cùng của đất nước Nhật Bản. Ông đã để lại danh tiếng vang dội với những chiến công của mình. Bởi vậy, ông cũng được nhiều người nhắc đến và kính trọng với tinh thần võ sĩ đạo.

Sự ra đời của một huyền thoại

Saigo Takamori với nguyên danh là “Saigo Takanaga”. Tên thật là Kichibe hoặc Kichinosuke. Ông sinh ngày 23/01/1828 (theo lịch Nhật Bản là 7/12 năm Văn Chính thứ 11), tại Kagoshima thuộc phiên Satsuma, ngày nay là thuộc tỉnh Kagoshima. Ông ra đời trong bối cảnh toàn bộ giới võ sĩ Samurai ở quê hương Satsuma của ông bị chính quyền ghẻ lạnh. Vì phiên Satsuma nằm trong liên minh chống lại Mạc phủ Tokugawa nên khi chính quyền Tokugawa lên nắm quyền, họ đã hào phóng phong tặng cho những người ủng hộ mình và trừng phạt những kẻ thuộc phe thù địch bằng cách ngăn chặn việc tham gia vào bộ máy chính quyền.

Saigo Takamori xuất thân trong một gia đình võ sĩ đạo cấp thấp tại Nhật Bản, nhưng có địa vị trong xã hội vì đã phục vụ trong đội cận vệ của Lãnh Chúa. Ông là người đã có công trong việc khôi phục thế lực của hoàng gia và lật đổ chế độ độc tài Shogun. Ông tham gia vào nhiều trận chiến và giành chiến thắng.

Ông là con cả trong gia đình 7 người con. Cha ông – Saigo Kichibei được xếp vào hạng Samurai cấp thấp làm công việc thuế chỉ đủ sống qua ngày. Vì vậy, Takamori và các người em của mình phải trải qua cuộc sống khốn khó như phải chia sẻ một chiếc chăn trong đêm, mặc dù một số người họ có thân hình cao lớn đến 1,8m. Bố mẹ của Saigo Takamori cũng phải vay tiền mua đất trồng trọt để đủ cái ăn cho gia đình. Gia cảnh nghèo khó cùng cách dạy dỗ của cha mẹ đã giúp Saigo Takamori thấm nhuần giá trị của lòng tự trọng, tính tiết kiệm và lòng tự hào.

Vì sinh ra trong gia đình võ sĩ đạo nên tính cách ông có phần ảnh hưởng. Ông có đầy đủ tính cách của một người võ sĩ đạo. Ông thân thiện, hòa đồng với mọi người, có lòng dũng cảm, vị tha, bao dung và một tinh thần võ sĩ đạo kiên cường, bất khuất.

Năm 6 tuổi, Saigo Takamori bắt đầu theo học tại ngôi trường địa phương Goju, hay còn gọi là trường tiểu học dành cho Samurai và lần đầu tiên được sử dụng thanh kiếm ngắn (Wakizashi – 脇差) được các chiến binh Samurai dùng. Khi còn học ở trường, ông đọc rất nhiều sách nên được xem như một học giả hơn là một chiến binh. Ông tốt nghiệp vào năm 1842. Ba năm sau đó, Takamori bắt đầu làm việc tại bộ máy quan lại địa phương với chức vụ cố vấn nông nghiệp. Năm 1852, khi 24 tuổi, ông trải qua cuộc hôn phối sắp xếp với Ijuin Suga kém ông 1 tuổi nhưng không có mụn con nào. Không lâu sau đám cưới, bố mẹ của ông đều qua đời và để lại trên vai ông gánh nặng của một gia đình đông người. Năm 1854, lúc 26 tuổi, ông đã được cử đến Edo để trợ giúp cho lãnh chúa phiên bang Satsuma – Shimazu Nariakira.

Trợ thủ đắc lực của lãnh chúa Shimazu Nariakira và hành trình sống lưu vong

Trong thời gian Takamori trở thành “cánh tay phải” cho lãnh chúa Shimazu Nariakira thì nhiều biến cố ập tới. Sự kiện đánh dấu mốc đó là năm 1854, Phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ Matthew C. Perry đưa hạm đội tàu chiến vào Vịnh Edo buộc Nhật Bản phải mở cửa, chấm dứt thời kỳ bế quan tỏa cảng. Chính quyền Mạc phủ Tokugawa đã triệu tập tất cả các lãnh chúa lại để bàn bạc cách đối phó với quân Mỹ. Lãnh chúa Shimazu Nariakira là một trong số những người ủng hộ mạnh mẽ Nhật Bản chống lại quân xâm lược phương Tây với đề xuất táo bạo là lấy toàn bộ tài sản của gia tộc giao cho chính quyền Tokugawa để củng cố sức mạnh quân sự. Lãnh chúa Shimazu Nariakira thúc giục Saigo Takamori lập các kế hoạch quân sự cho mục tiêu chống Tây.

Ngày 15/4/1858, Lãnh chúa Shimazu Nariakira qua đời đột ngột, nguyên nhân cái chết được nghi ngờ là do bị đầu độc. Lúc này, Saigo Takamori dự tính sẽ quyên sinh theo lãnh chúa như truyền thống của Samurai. Nhà sư Gessho đã thuyết phục Saigo Takamori hãy sống và tiếp tục công việc chính trị trong sự tưởng nhớ về Lãnh chúa Shimazu Nariakira. Với chính sách bài ngoại của mình, Saigo Takamori trở thành đối tượng bị Mạc chúa thanh trừng. Nhà sư Gessho và Saigo Takamori nhanh chóng rời Edo trở về quê hương Kagoshima, nhưng Lãnh chúa mới của vùng Satsuma lại từ chối bảo vệ những người đã làm việc cho Mạc phủ. Để không bị bắt, Gessho và Saigo Takamori đã nhảy từ con thuyền nhỏ xuống vịnh Kagoshima, đáng tiếc Gessho đã không sống sót. Một con thuyền nhỏ đi qua đây đã cứu Saigo Takamori rồi đưa ông đến đảo Amami Oshima. Từ đây ông bắt đầu với hành trình 3 năm sống lưu vong với một cái tên khác là “Saigo Sasuke”. Những vị quan trong triều đình phản đối chính sách của Mạc phủ vẫn viết thư cho ông để xin lời khuyên về chính trị, mặc dù Mạc phủ thông báo ông đã chết. Vì vậy, sức ảnh hưởng của ông vẫn được duy trì tại Kyoto. Ông cũng kết hôn với một phụ nữ địa phương tên là Aigana và có một đứa con trai.

Sau 3 năm sống lưu vong, Saigo Takamori được phép quay trở về quê hương Kagoshima, nhưng vợ con ông lại là dân thường nên không thể đi cùng ông. Mạc phủ lúc này đã trở nên yếu kém, bất lực bởi sự xuất hiện của các hạm đội Mỹ, cùng nhiều quốc gia như: Anh, Hà Lan, Pháp, Nga,… buộc Mạc phủ mở cửa đất nước. Nhiều gia tộc Samurai bất mãn với chính quyền Mạc phủ, trong đó có phiên Satsuma, đã hợp lực cùng nhau để tổ chức phong trào cần vương với mục đích lật đổ chính quyền, đưa Thiên hoàng trở thành người lãnh đạo đất nước thật sự.

Lúc này em trai của lãnh chúa Shimazu Nariakira tên Hisamitsu đã kích động cuộc nổi loạn và tổ chức phong trào cần vương. Saigo Takamori đã khuyên ngăn họ vì hiện tại chưa phải thời cơ chín muồi, nếu hành động thì chỉ dẫn đến cuộc tàn sát nên ông đã đi trước một bước. Ông tiến hành thương lượng với chính quyền Mạc phủ để duy trì quan hệ hòa bình giữa hai bên. Tuy nhiên, Mạc phủ một lần nữa hiểu lầm, cho rằng ông phản bội và đày ông ra đảo Tokunoshima trong 4 tháng.

Saigo Takamori dưới thời Minh trị Duy Tân

Vào năm 1866, khi cuộc tấn công của phiên Choshu nổ súng vào dinh thự của Thiên Hoàng, Saigo Takamori đã nhanh chóng liên minh với lực lượng của phiên Aizu để dập tắt loạn lạc và giữ cho Thiên hoàng an toàn, cũng như đàm phán thành công với phiên Choshu biến chiến sự thành hòa bình.

Năm 1867, khi cuộc trao trả quyền lực nhường lại cho Thiên Hoàng Minh Trị, Saigo Takamori là người phản đối kịch liệt việc đàm phán và đòi nhà Tokugawa phải bị tước đoạt hết địa vị đặc biệt. Điều này là lý do của cuộc chiến Boshin giữa quân đội Thiên hoàng và Mạc phủ. Năm 1868, chiến tranh Boshin với 5.000 quân của Saigo Takamori liên kết với phiên Choshu tiến đánh chính quyền Mạc phủ Tokugawa. Mạc phủ nhận thấy tình thế nguy cấp với nhiều kẻ thù bao vây nên đã trả lại chính quyền cho Thiên hoàng. Mạc phủ sụp đổ từ đây.

Sau đó, Saigo Takamori đã trở thành cố vấn chính trị cho Thiên hoàng Minh Trị và đóng vai trò cốt yếu trong cuộc cải cách Minh Trị. Ông đã thuyết phục Thiên hoàng thành lập quân đội Nhật theo phong cách phương Tây.

Và vào thời gian này, ông nắm giữ vai trò quan trọng trong việc phế phiên, lập huyện và thành lập quân đội. Vào năm 1871, ông được giao nhiệm vụ lãnh đạo trong triều đình khi các sứ bộ thần sang các nước phương Tây.

Từ quan

Sau khi chính quyền Minh Trị lên nắm quyền, Thiên hoàng đã nối lại mối quan hệ ngoại giao với Triều Tiên. Năm 1869, Chính phủ Minh Trị cử phái viên đến Hàn Quốc mang theo một lá thư đề nghị thiết lập quan hệ thiện chí giữa hai nước. Tuy nhiên, bức thư có con dấu của chính phủ Minh Trị chứ không phải là con dấu do Triều Tiên cho phép gia tộc So sử dụng. Nó cũng sử dụng ký tự “皇 – Ko” thay vì “大君 – Taikun” để chỉ Hoàng đế Nhật Bản. Người Hàn Quốc chỉ sử dụng “皇” để chỉ hoàng đế Trung Hoa, nên hành động này đối với Hàn Quốc là ngụ ý về sự vượt trội về mặt nghi lễ của Nhật Bản so với nhà vua Hàn Quốc. Do đó, Hàn Quốc không chấp nhận thư này. Saigo Takamori thật sự nổi giận và đề xuất khai chiến với Triều Tiên để trừng phạt họ. Chính quyền Minh Trị nhận thấy Nhật Bản hiện tại không đủ lực lượng chiến đấu, cũng như không nhận được sự ủng hộ từ quốc tế nên đã từ chối kế hoạch của Saigo Takamori. Ông đã phản đối bằng cách từ chức và trở về quê nhà Kagoshima.

Cuộc nội chiến cuối cùng ở Satsuma và sự ra đi của Saigo Takamori

Saigo Takamori trở về quê hương và mở ra Học viện quân sự Shi-gakko. Nhiều gia đình Samurai bất mãn với triều đình đã gửi con theo học ở ngôi trường này. Học viện của ông mở rộng chi nhánh khắp Kagoshima và trở thành mối lo của Chính quyền Minh Trị.

Lo sợ cuộc nổi dậy từ phía Saigo Takamori, triều đình đã cử một tàu chiến đến Kagoshima để dỡ vũ khí từ kho súng Kagoshima. Các học trò thân cận của Takamori lại nhìn nhận cuộc đại chiến đang đến gần nên đã tấn công kho súng để cướp vũ khí và phát hiện ra Chính quyền Minh Trị sai người ám sát Saigo Takamori. Từ đây, trận chiến Shiroyama (hay còn gọi là cuộc nổi loạn Satsuma) đã được châm ngòi.

Đã có khoảng 12.000 người trong đoàn quân do Saigo Takamori dẫn đầu tiến về Tokyo. Lực lượng chiến đấu của ông nhanh chóng hao hụt do phải đối mặt với quân triều đình 45.000 người. Sau nhiều lần đánh, đội quân của Saigo Takamori chỉ còn 300 người sống sót đã di chuyển lên núi Shiroyama – nơi đang có 7.000 quân triều đình chiếm đóng. Đội quân của ông đã bị tiêu diệt trong đợt tấn công cuối cùng của quân triều đình. Ông bị bắn xuyên đùi và đã thực hiện Seppuku (nghi thức mổ bụng tự sát) theo truyền thống của Samurai vào ngày 24/12/1877.

Tưởng nhớ người võ sĩ Samurai cuối cùng của nước Nhật

Saigo Takamori là một người võ sĩ đạo samurai nhận được nhiều sự yêu mến của mọi người. Mặc dù đối đầu với Chính phủ Nhật Bản nhưng với những lý do chính đáng và những thành tựu mà ông đem lại nên được mọi người công nhận và tôn kính ông. Với sự lãnh đạo tài tình trong quân đội và tinh thần võ sĩ đạo đã giúp ông có được nhiều thành tựu trong đời.

Tiếng tăm của ông vẫn được lưu truyền qua nhiều đời. Hình ảnh của ông được mọi người tôn kính với một bức tượng đài được đặt ngay tại Công viên Ueno ở Tokyo. Hình ảnh người võ sĩ đạo Samurai cuối cùng của nước Nhật trước khi bước vào thời đại mới. Mọi người có thể chiêm ngưỡng tượng đài của ông tại Công viên Ueno để ngắm nhìn những khắc họa về ông qua những lưu truyền của hậu thế.

Bên cạnh bức tượng đài được dựng lên tại Công viên Ueno thì ông còn được nhắc đến trong những tác phẩm điện ảnh, kịch, hoạt hình và Manga. Hình ảnh ông được khắc họa với một chiến binh Samurai hùng dũng, oai vệ và khả năng chiến đấu tài tình.

Trong những năm 1985, bộ phim hoạt hình Kamui no Ken, hình ảnh ông xuất hiện trong những cảnh cuối của bộ phim. Ông còn được nhắc đến trong một vở kịch với vai trò là nhân vật phụ của vở kịch Taiga. Ông còn nhiều lần được đề cập đến trong bộ truyện tranh Manga Rurouni Kenshin.

Vào năm 2003, Bộ phim võ sĩ đạo cuối cùng nói về cuộc chiến của Saigo Takamori với triều đình Minh Trị tại Shiroyama đã mang đến cho khán giả những thước phim ấn tượng, những dấu ấn lịch sử về nhân vật này.

Cho đến ngày nay, huyền thoại Saigo Takamori vẫn luôn được người Nhật nhớ đến với sự tôn kính và ngưỡng mộ. Nếu có cơ hội du lịch Nhật Bản, du khách đừng quên dành thời gian khám phá thêm về vị võ sĩ Samurai này nhé!

Tấm chắn cửa Shoji độc đáo trong mỗi căn nhà truyền thống Nhật Bản

Kiến trúc nhà cửa của Nhật Bản từ bao đời nay đều mang đến cho mọi người nhiều bất ngờ đặc biệt và sự thật đằng sau càng khiến nhiều người cảm thấy ngưỡng mộ và tâm phục hơn. Trong nội thất nhà cửa của Nhật Bản, đặc biệt là trong hầu hết các căn nhà truyền thống Nhật Bản đều có tấm chắn cửa Shoji độc đáo.

Trong kiến trúc nhà xưa của người Nhật không thể thiếu tấm chắn Shoji (hay còn gọi là cửa Shoji). Đây là một loại cửa trượt truyền thống của “xứ Phù Tang” giúp tạo nên sự hòa hợp và sự thanh thoát gần gũi giữa kiến trúc nhà ở và kiến trúc cảnh vật xung quanh ngôi nhà của người Nhật.

Tấm chắn Shoji được đưa vào trong căn nhà Nhật Bản để ngăn cách khu vực sống bên ngoài và khu vực sống bên trong, đồng thời vẫn không làm cho căn nhà bị thiếu ánh sáng và ngột ngạt. Cửa Shoji giúp ngăn cách căn phòng với thế giới bên ngoài, tạo cảm giác an toàn và thanh thản đầu óc vào buổi đêm.

Được biết, tấm chắn Shoji có nguồn gốc từ mô hình tấm chăn gập của người Trung Hoa. Tấm chắn Trung Hoa, có lúc được làm bằng giấy, mà chúng ta biết ngày nay có từ thế kỷ thứ 8 sau Công nguyên. Tuy nhiên, cũng có tài liệu cho rằng nó có từ triều đại Zhou (thế kỷ 4 – 3 trước Công nguyên). Cũng thật thú vị khi những bức họa về tấm chắn lại có thể tìm thấy trong các ngôi mộ từ triều đại Han (năm 200 trước Công nguyên – 200 sau Công nguyên).

Ban đầu, cửa Shoji chỉ là một loại cửa cố định, được dán phủ bằng giấy hoặc vải, sau đó, người Nhật đã cải tiến cửa lại theo phong cách riêng, cửa được thiết kế dạng trượt và dùng một loại giấy đặc biệt để dán phủ. Loại giấy này được gọi là giấy Washi có màu trắng đục trông như gạo. Washi truyền thống được làm từ cây dâu tằm (Kozo) và cây bụi (Mitsumata và Ganpi), nó vô cùng đắt đỏ và hiếm vì nguyên liệu hoàn toàn từ thiên nhiên và được làm thủ công, mãi đến những năm 1960 khi dùng các sợi hóa học để thay thế thì loại giấy này mới có giá phải chăng hơn.

Vật liệu quan trọng còn lại của Shoji là bộ khung cửa (Kumiko), cấu tạo của cửa Shoji tuyệt vời ở chỗ là nó tối thiểu nguyên vật liệu đến thấp nhất (chỉ cần 2 loại), việc còn lại là làm sao để nâng cao hiệu quả của từng loại. Người ta phát hiện ra, khi những mảnh gỗ nhỏ được trộn lẫn với nhau, chúng sẽ trở nên chắc chắn và cứng cáp hơn rất nhiều. Bộ khung cửa bằng gỗ thường được lắp theo các mẫu hình học đơn giản, không chỉ mang lại vẻ đẹp tinh tế mà còn giúp nó chắc hơn và cố định giấy tốt hơn.

Hiện nay, ở “xứ Phù Tang” có nhiều loại cửa Shoji khác nhau, được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau trong đời sống như là: Yukimi Shoji là loại cửa dùng để ngắm tuyết, một phần bên dưới cửa được thiết kế theo dạng cửa gập, khi cần ngắm khung cảnh bên ngoài có thể dễ dàng mở ra và gập lại khi trời quá lạnh nhưng vẫn có thể thấy rõ cảnh vật bên ngoài từ trong nhà. Đây là một ý tưởng hay giúp cho mọi người có thể dành thời gian thưởng thức khung cảnh tuyết rơi, nhìn màu tuyết trắng xóa lặng lẽ phủ khắp mặt đất. Kazari Shoji được thiết kế các chi tiết trang trí lên phần giấy hoặc bộ khung, khi ánh sáng ngoài trời ban ngày hoặc ánh đèn ban đêm chiếu vào, cửa sẽ càng thêm sinh động với các vật trang trí. Cửa bốn phần là loại cửa được chia làm 4 phần, mỗi khung cửa cắt một phần khác nhau của cùng một khung cảnh, nó mang lại cảm giác mới lạ và thú vị hơn so với khung cửa rộng thông thường. Satori no Mado – cửa có dạng hình tròn, là một đặc trưng của phong cách thiền và thể hiện sự giác ngộ, hình cửa tròn gợi ý về hình ảnh một thế giới rộng lớn, một vũ trụ bao la. Mayoi no Mado – cửa có hình chữ nhật, bốn góc đại diện cho 4 giai đoạn không thể tránh khỏi của đời người – sinh, lão, bệnh, tử.

Shoji dùng cho các bữa tiệc trà, làm phông nền cho buổi ca nhạc hay vũ hội, bảo vệ các nghi thức Phật giáo và ngăn cách với những hoạt động bên ngoài ngôi nhà. Kiểu gập của tấm chắn phụ thuộc vào mục đích sử dụng. Ví dụ, tấm chắn gập đôi nhỏ dùng cho tiệc trà trong khi tấm chắn lớn với 8 nếp gấp lại dùng làm phông cho các vũ hội. Ngoài ra, tấm chắn nhẹ và linh hoạt được sử dụng khi cần di chuyển nhanh. Tấm chắn nhẹ nhưng chắc chắn lại được dùng với hàng rào mắt cáo và gỗ cứng, phủ lớp giấy được làm thủ công trong các hoạt động cụ thể và tương tự “Karibari”.

Tấm chắn Shoji được dùng làm cửa ra vào, cửa sổ, cửa nhà tắm và dùng làm tấm ngăn ở mọi nơi với mục đích riêng tư. Vì thế chúng có thể được gọi là tấm ngăn phòng Shoji. Chúng hữu dụng khi được dùng làm vách ngăn văn phòng, cửa tủ, cửa sổ trần nhà và tấm ván đặt ở đầu giường. Với vẻ gọn gàng giản dị, trông chúng rất tự nhiên khi được dùng làm cửa sổ thiết kế đặc biệt.

Tấm chắn cửa Shoji nổi tiếng không chỉ đơn thuần là nét đẹp tinh tế văn hóa truyền thống mà còn là sự yêu thích đặc biệt của các căn nhà ở “xứ Phù Tang” hiện nay. Nếu có dịp du lịch Nhật Bản, du khách hãy khám phá nhiều hơn về những nét văn hóa truyền thống của đất nước này nhé!