Sự tinh tế trong giao tiếp người Nhật thông qua ngôn ngữ cơ thể

ngon ngu co the 9

Nhật Bản là một đất nước giàu truyền thống, rất xem trọng văn hóa ứng xử và nổi tiếng với những quy định “luật bất thành văn”. Không phải lúc nào họ cũng giao tiếp thông qua lời nói, có một cách nữa là thông qua cử chỉ và ngôn ngữ cơ thể. 

Người Nhật vốn được biết đến là dân tộc khá lạnh lùng, họ thường ít khi biểu hiện cảm xúc thật ra bên ngoài. Tuy nhiên, không phải vì thế mà có thể kết luận ngay rằng họ không có ngôn ngữ cơ thể, có chăng là vì du khách chưa biết hoặc chưa hiểu về chúng thôi. Cùng tìm hiểu điều đó qua một vài ngôn ngữ cơ thể, cử chỉ thường xuất hiện trong giao tiếp của người Nhật dưới đây:

Cúi đầu

Ngôn ngữ cơ thể phổ biến nhất của người dân Nhật Bản là cúi chào. Văn hóa cúi chào của người Nhật cũng được coi như bắt tay ở phương Tây. Hành động này không chỉ là cách chào hỏi người đối diện mà còn biểu hiện sự tôn trọng với người mà họ gặp, cho dù họ là bạn bè hay người lạ. Nếu không cúi đầu khi gặp nhau ở “xứ Phù Tang”, sẽ bị coi là người bất lịch sự.

ngon ngu co the 1

Có 3 kiểu chào với độ trang trọng tăng dần là Eshaku, Keirei và Saikeirei. Eshaku là cách chào nghiêng 15 độ dùng để chào đồng nghiệp hoặc khách hàng. Keirei là cách chào nghiêng 30 độ dùng trong giao tiếp với cấp trên, người lớn tuổi, người có địa vị cao hơn hoặc để nhờ vả. Còn Sankeirei là cách chào nghiêng 45 độ dùng khi gặp một nhân vật quan trọng hoặc trong trường hợp cảm ơn/xin lỗi một cách tha thiết.

Thông thường, khi tạm biệt, người Nhật sẽ cúi chào lịch sự hơn so với khi gặp mặt. Đối với người lớn tuổi hơn hay cấp trên, họ sẽ phải cúi sâu và giữ nguyên tới khi người kia quay lưng lại, hoặc đến khi cửa đóng để thể hiện sự kính trọng. Với người có cấp bậc hay tuổi tác hơn nhiều thì càng phải cúi thấp và giữ yên tư thế đó lâu hơn bình thường.

Xin lỗi hoặc nhờ vả

Khi người Nhật có hành động chắp hai tay vào và để trước mặt thì nó có hai ý nghĩa, một là xin lỗi (Gomennasai), hai là khi muốn nhờ ai đó việc gì với hàm ý “Làm ơn giúp tôi” (Onegaishimasu).

Chỉ vào bản thân

ngon ngu co the 4

Ở Nhật Bản, người ta thường dùng hành động chỉ vào mặt khi nói về bản thân. Người bản địa thường dùng ngón trỏ để chỉ vào mặt, gần mũi.

Thế nhưng, việc chỉ tay vào người hoặc vật ở Nhật Bản được xem là hành động thô lỗ. Thay vì hành động chỉ tay, kể cả khi chỉ đường, người Nhật thường dùng cả bàn tay nhẹ nhàng hướng về chủ thể mà mình muốn nói đến. Thậm chí khi muốn ra hiệu cho ai đó đi về phía mình người Nhật cũng không sử dụng hành động vẫy tay. Thay vào đó họ thường hướng lòng bàn tay vào phía mình, giữ nguyên cổ tay và di chuyển bàn tay lên xuống.

Giao tiếp bằng ánh mắt

Du khách đã bao giờ giao tiếp với một người Nhật bằng ánh mắt nhưng đáp lại, họ chỉ nhìn đi chỗ khác? Lý do là vì cử chỉ này đối với người Nhật được xem là thô lỗ vì nó khiến đối phương không thoải mái và nhiều khi nó có thể bị hiểu nhầm như một hình thức công kích hay gây hấn. Do đó, khi nói chuyện với người Nhật, chỉ nên trao đổi ánh mắt rất nhanh và sau đó chuyển điểm nhìn đến một vị trí phù hợp hơn như cổ của đối phương chẳng hạn.

Theo truyền thống Nhật Bản, trong một tập thể người duy nhất có quyền nhìn vào mắt người khác phải là người đàn ông lớn tuổi nhất, hoặc là người có địa vị cao nhất.

Khoanh tay trước ngực

Nếu du khách làm hành động này khi đang nói chuyện với người Nhật, du khách sẽ khiến họ hiểu lầm là du khách không muốn nghe cuộc nói chuyện của họ hoặc không đồng tình với họ

Vẫy tay để nói “không”

Khi người Nhật sử dụng cử chỉ vẫy tay qua lại trước mặt người đối diện, với ngón cái hướng về phía đối tác và ngón tay út hướng xa ra, nó biểu đạt nghĩa là “không”. Ví dụ, khi họ bị buộc tội về điều gì đó, nó ngụ ý “không phải tôi” hoặc “không được”, “tôi không làm”.

Nếu ai đó hỏi du khách có thể làm gì đó không, cử chỉ này có nghĩa là “Không, tôi không thể!” Nó cũng có thể được sử dụng để nói “Không, cảm ơn” khi ai đó cố gắng đưa cho du khách thứ mà du khách không cần.

Hành động khoanh tay trước ngực cũng biểu đạt sự từ chối tương tự với “không” nhưng ở mức độ tiêu cực và gay gắt hơn.

Chữ O đồng ý

ngon ngu co the 2

Ngoài động tác gật đầu như ở phương Tây, người Nhật còn thể hiện sự đồng ý bằng cách tạo một hình chữ O lớn với 2 cánh tay giơ trên đầu. Cũng có thể tạo thành nắm đấm và đập vào lòng bàn tay còn lại với ý nghĩa: “Tôi đồng ý với những gì bạn nói”.

Không đồng ý

ngon ngu co the 3

Để biểu lộ sự không đồng ý, người Nhật sễ bắt chéo hai cánh tay trước mặt, tạo thành chữ X lớn ngay trước ngực. Cách này cũng có ý nghĩa tương đương với lắc đầu ở phương Tây.

Đồng ý, phải rồi

ngon ngu co the 6

Hành động nắm một bàn tay lại và đấm vào lòng bàn tay kia cho thấy người Nhật thực sự đồng tình với lời nói của một ai đó và thể hiện là mình có cùng suy nghĩ với đối phương.

“Tôi không biết”

Hành động vẫy thẳng tay phía trước miệng với ngón cái tiến dần đến mặt có nghĩa là “Tôi không biết!”. Cũng có thể lắc đầu cùng lúc, nhưng chuyển động của đầu và tay phải ngược chiều nhau. Nếu du khách hỏi đường và thấy cử chỉ này, điều đó có nghĩa người đó không hiểu ngôn ngữ mà du khách nói hoặc họ không thể chỉ đường, hãy hỏi người khác nhé!

Đếm số bằng một tay

Khi người Nhật đếm từ 1 đến 10, họ sẽ chỉ sử dụng một tay. Số 0 là bàn tay mở rộng. Bắt đầu với bàn tay mở, lần lượt khép ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út và ngón út để đếm từ 1 đến 5; và làm ngược lại mở ngón út, ngón áp út đến hết để đếm từ 6 đến 10.

ngon ngu co the 8

Để đếm cho người khác nhìn, họ sẽ đưa lòng bàn tay về phía trước và lần lượt đưa các ngón tay lên. Đếm từ 1 đến 5 theo thứ tự ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út, ngón út và cuối cùng là ngón cái; và làm như vậy với tay còn lại nếu muốn đếm từ 6 tới 10.

“Xin đợi một chút!”

Đưa lòng bàn tay đối diện với người khác, các ngón tay sát nhau, dùng cả hai tay thì có ý nghĩa “Hãy đợi tôi ở đây”. Ở các đất nước khác sẽ giơ ngón trỏ lên để chỉ sự chờ đợi, nhưng người Nhật lại hiểu cử chỉ này mang ý nghĩa “số một”.

“Xin mời đi lối này!”

Đây là cách lịch sự nhất để chỉ dẫn phương hướng, lối đi cho người đối diện. Bên cạnh việc mở lòng bàn tay và hướng bàn tay vào vị trí đối phương cần đến thì việc hướng ánh mắt xuống vị trí ấy cũng vô cùng quan trọng.

Hết giờ/ Thanh toán

ngon ngu co the 5

Nhiều khi du khách thấy người Nhật gọi nhân viên phục vụ lên và làm một vài cử chỉ bằng tay và sau đó hóa đơn được đem ra. Vậy thực tế, họ đã ra dấu hiệu như thế nào? Du khách chỉ cần để một lòng bàn tay nằm ngang úp xuống, lòng bàn tay kia dựng đứng và tạo với bàn tay còn lại thành hình chữ T. Điều này có ý nghĩa là “Làm ơn thanh toán cho tôi”. Trong một vài trường hợp khác nó cũng có nghĩa là “Hết giờ”.

Trên đây chỉ là một vài điểm nổi bật trong vô vàn quy tắc ngôn ngữ cơ thể trong văn hóa ứng xử của người Nhật. Đất nước này có rất nhiều điều thú vị để chúng ta khám phá.