thien hoang Nintoku 5 1

Nintoku – vị Thiên hoàng hiền đức và phong tình nhất trong lịch sử Nhật Bản

Trong lịch sử Nhật Bản, Nintoku được biết đến là một vị Thiên hoàng hiền đức, hết mực thương yêu và chăm chút dân chúng. Nhưng bên cạnh đó, ông lại là một người phong tình bậc nhất.

Thiên hoàng Nintoku là vị Thiên hoàng thứ 16 của Nhật Bản, và là vị vua thứ hai của Triều đại Ōjin của Nhà nước Yamato. Không chắc chắn về ngày tháng cuộc đời và Triều đại của Thiên hoàng này. Nintoku được coi là đã trị vì đất nước vào cuối thế kỷ 4, đầu thế kỷ 5, nhưng có rất ít thông tin về ông. Theo Nhật Bản Thư Kỷ (Nihon Shoki), ông là con trai thứ tư của Thiên hoàng Ōjin và là cha của các Thiên hoàng Richū, Hanzei, và Ingyō.

Lên ngôi

Khi Hoàng tử Osasagi (sau này là Thiên hoàng Nintoku) còn trẻ, vua cha Ōjin đã vời các nhân sĩ Trung Quốc đến dạy dỗ ông, và thu được những kết quả rất tốt.

Theo cuốn Japan của tác giả David Murray, Thiên hoàng Ōjin muốn phân chia quyền lực giữa 3 Hoàng nam của ông, song lại muốn phong người con út làm Thái tử kế vị. Ōjin đã triệu tập cả 3 Hoàng tử đến và hỏi hoàng tử cả: “Nên chọn ai, con trưởng hay là con út?” Vị hoàng tử cả này liền trả lời rằng người nối ngôi phải là con trưởng. Nhưng Thiên hoàng lại quay sang hỏi người con thứ của mình là Hoàng tử Osasagi, thì Osasagi cho rằng nên chọn con út lên kế vị, do con lớn đang trưởng thành lên nên không biết lo lắng. Thiên hoàng đẹp lòng với câu trả lời này, vì nó đúng ý với Thiên hoàng: Ōjin đã phong con út là Waka-iratsu làm Thái tử và sai Osasagi hỗ trợ em mình. Thiên hoàng cũng giao lại núi, sông, rừng và ruộng đất cho người con trưởng của mình.

thien hoang Nintoku 7

Sau khi Ōjin mất vào năm 310, người con út đã khuyên anh mình lên nối ngôi Thiên hoàng; nhưng ông từ chối và nói: “Làm sao anh có thể bất tuân theo những lời răn dạy của phụ hoàng?”. Người con trưởng của Ōjin thấy vậy bèn “đục nước thả câu”, lập mưu tiếm ngôi. Tuy nhiên, vụ phản nghịch đã bị phát giác và người con trưởng bị giết. Trong suốt 3 năm tới, Waka-iratsu vẫn khăng khăng đòi Osasagi lên nắm Đế quyền và cuối cùng vị Hoàng tử út đã tự sát, để lại ngôi báu cho Osasagi – đó chính là Thiên hoàng Nintoku.

Những thành quả dưới sự cai trị của Thiên hoàng Nintoku

Theo sử sách, Nintoku là vị Thiên hoàng hiền đức, rất có lòng thương dân. Ông được xem là vị Thiên hoàng huyền thoại duy nhất gần gũi với lý tưởng Nho giáo, và trở thành ông vua được mến mộ nhất trong ký ức của người Nhật.

thien hoang Nintoku 6

Tương truyền, khi đứng trên ngọn đồi cao để quan sát dân tình, Nintoku cảm thấy không có khói bốc lên từ các nhà tranh, và nghĩ là trăm họ bị điêu đứng và đói khổ vì sưu cao thuê nặng, do đó ông đã ban Thánh chỉ xá thuế 3 năm liền. Trong thời gian đó ông cũng không thu thập cả những khoản tiền để tu sửa cung điện và cung cấp áo mũ cho Triều đình. Bản thân Thiên hoàng cũng chỉ ăn mặc giản dị. Nhờ đó, nhân dân đã có đủ lương thực để ăn. Với công đức khôi phục vận mệnh của nước Nhật Bản sau 3 năm trị vì sáng suốt, ông có thể được ví von với Thiên hoàng Minh Trị – người đã hồi phục đất nước sau thời kỳ Mạc mạt.

Sự đức độ và lòng yêu mến nhân dân của Nintoku đã gây cho Hoàng hậu Iwano Hime nổi trận lôi đình: bà tức giận khi thấy ông xá thuế cho trăm họ khiến cung điện của ông bị mục nát. Nhưng rồi, khi hưng thịnh lại, thần dân đã tự nguyện nộp thuế và sửa sang cung vua. Khi lên lại ngọn đồi cũ ngày nào, Thiên hoàng đẹp dạ khi thấy những cánh đồng màu mỡ khói bốc nghi ngút từ các nhà tranh.

thien hoang Nintoku 3 e1648988719488

“Nhật Bản Thư Kỷ” đã chép lại những thành quả dưới triều ông như sau:

  • Xây dựng đê Horie ở Namba để chống lũ cho đồng bằng Kawachi, và phát triển nó một lần nữa. Đây được coi là công trình quy mô lớn đầu tiên ở Nhật Bản.
  • Lập ra một vùng đất dưới sự kiểm soát trực tiếp của triều đình.
  • Xây dựng đê Yokono (dải đất nằm ngang, Ikuno-ku, Osaka-shi).

Cũng theo Nhật Bản Thư Kỷ, ông là một chiến binh bách thắng. Ông còn xuống lệnh cho các chuyên gia người Triều Tiên tham gia tưới tiêu và sửa sang đê điều. Ngoài ra, người ta nói rằng dưới triều Nintoku, các nhà chép sử được phái đến các tỉnh và nhận lệnh ghi nhận những sự kiện quan trọng rồi báo về Triều đình. Đây là một điểm ngoặt trong lịch sử Nhật Bản vì kể từ đó, các nhà sử học thời ấy đã có những ghi chép văn tự để chúng ta dựa theo.

Một Thiên hoàng phong tình và cơn ghen của Hoàng hậu Iwanohime

Trong cuốn sách “Tình dục trong lịch sử Nhật Bản”, Nakae Katsumi có thuật lại chuyện ghen tuông của Hoàng hậu Iwanohime được ghi lại trong hai cuốn sách “Cổ sự ký” và “Nhật Bản thư kỷ”.

Hoàng hậu Iwanohime là vợ Thiên hoàng Nintoku (khoảng thế kỷ V). Chế độ đa thê lúc bấy giờ là phổ biến nhưng bà là người rất hay ghen. Sách “Cổ sự ký” có hành động lúc ghen của bà là “đập chân bình bịch xuống đất”. Nhưng những cơn ghen của Hoàng hậu Iwanohime cũng không cản nổi tính háo sắc của Thiên hoàng Nintoku.

Một ngày nọ Thiên hoàng Nintoku nhìn thấy một nữ quan tên là Kugahime đi từ ruộng dâu lên và cảm thấy thích nữ quan này. Ông muốn đưa nữ quan này vào hậu cung nhưng Hoàng hậu Iwanohime cố sức ngăn cản. Kết cục ý định không thành nên Thiên hoàng muốn gả nữ quan này cho một người đàn ông khác để có dịp gặp gỡ nhưng nữ quan tuyên bố “sẽ trọn đời độc thân”. Cuối cùng Thiên hoàng Nintoku phải trả Kugahime về nơi cũ.

Ngoài ra, Thiên hoàng Nintoku cũng yêu Công chúa Yata là em cùng cha khác mẹ với mình. Và lần này cũng bị Hoàng hậu Iwanohime phản đối.

Sách “Nhật Bản thư kỷ” có ghi lại hai bài thơ đối đáp giữa Thiên hoàng Nintoku và Hoàng hậu Iwanohime về chuyện công chúa Yata như sau:

Thiên hoàng Nitoku ngâm:

“Anh thề xin hãy tin anh
Nàng kia cũng chỉ là cành hoa chơi
Lúc nào em vắng mới mời
Vui chơi tí chút thì thôi ấy mà”.

Hoàng hậu Iwanohime đáp lại:

“Mặc áo hai tấm chẳng sao
Nhưng giường hai chiếc làm sao bây giờ?”

thien hoang Nintoku 1

Bị phản đối quyết liệt, việc đưa Yata vào hậu cung không thành. Nhưng Thiên hoàng Nintoku không từ bỏ ý định này. 8 năm sau, lừa lúc Hoàng hậu Iwanohime đi du lịch tới Kishu, Thiên hoàng đưa Yata vào hậu cung vui vẻ ngày đêm.

Biết chyện Hoàng hậu Iwanohime tức giận không trở về cung mà đến sống ở cung Tsutsukinomiya trong núi. Thiên hoàng Nintoku bao lần cử sứ giả đến thuyết phục nhưng bà kiên quyết không về. Cuối cùng, Thiên hoàng Nintoku phải đích thân đến thuyết phục nhưng Hoàng hậu Iwanohime kiên quyết không tiếp. Thiên hoàng Nintoku phải quay về.

5 năm sau, Hoàng hậu Iwanohime qua đời. Thiên hoàng Nintoku phong cho Yata làm Hoàng hậu nhưng sau đó chẳng bao lâu ông lại đem lòng yêu nhiều người phụ nữ khác.

Người đời sau coi Nintoku là một trong những Thiên hoàng phong tình nhất trong lịch sử Nhật Bản.

Thiên hoàng Nintoku đã lưu dấu trong lịch sử “xứ Phù Tang” với rất nhiều điều thú vị. Tuy vậy, chính những câu chuyện này lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử Nhật Bản. Nếu du khách muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Nhật Bản nhé!

Kiriko 9

Kiriko – Nghệ thuật chạm khắc thủy tinh đầy mê hoặc của Nhật Bản

Đất nước Nhật Bản có rất nhiều loại hình nghệ thuật độc đáo mang những nét đặc trưng riêng của mình. Trong đó, Kiriko là một trong những nghệ thuật đặc sắc của người Nhật, được hình thành từ lâu đời. Đây là nghệ thuật chạm khắc thủy tinh với những tác phẩm đặc sắc được tạo ra, mang đến sự lôi cuốn kỳ lạ cho mọi người.

Kiriko có từ 1.000 năm trước, dưới bàn tay của các nghệ nhân sử dụng thủy tinh làm ra các đồ vật, sau đó chạm khắc lên bề mặt thủy tinh để tạo ra những đường nét hình học tinh tế, hoa văn trang nhã, giúp món đồ thủy tinh trong suốt càng trở nên lấp lánh.

Kiriko 1

Kiriko ngoài việc dùng để sản xuất các đồ dùng, vật dụng đơn giản sử dụng trong đời sống hàng ngày như: đĩa, cốc, chén, bình hoa,… còn được sử dụng trong nhiều mục đích khác, chẳng hạn như đồ trang trí, đồ chơi, đồ lưu niệm, dùng làm chụp đèn trong lĩnh vực trang trí nội thất. Thậm chí, Kiriko còn được sử dụng trong hệ thống đèn đường chiếu sáng tại các khu đô thị.

Sáng tạo hơn, các nghệ nhân Kiriko đã dùng thủy tinh để tạo ra mặt dây chuyền, vỏ đồng hồ và vô số mặt hàng trang sức khác. Mục tiêu của họ là đưa sản phẩm thủy tinh Kiriko vào đời sống hàng ngày từ những vật dụng đơn giản đến các mặt hàng chất lượng cao.

Được biết, để có được những sản phẩm Kiriko, trước tiên người ta phải làm ra thủy tinh. Nguyên liệu chính dùng để sản xuất thủy tinh Kiriko là dioxit silic, hay còn gọi là silicat, có trong cát và là thành phần hóa học của thạch anh. Trong thủy tinh có chứa chì tinh thể, giúp tạo ra sự lấp lánh. Nguyên liệu sẽ được nung ở nhiệt độ 1.050 độ C rồi người ta thổi để tạo hình khi thủy tinh còn ở dạng nóng chảy. Sau khi đã thành hình, thủy tinh sẽ được khắc hoa văn để tạo ra sản phẩm thủy tinh Kiriko.

Mặc dù ra đời khá muộn so với các nghề thủ công khác như: gốm sứ, dệt vải, lụa, giấy,… nhưng nghề chế tác thủy tinh pha lê Nhật Bản nhanh chóng đạt độ tinh xảo, đậm tính nghệ thuật không thua kém những nhãn hiệu pha lê hàng đầu thế giới. Nghệ thuật truyền thống này bắt đầu hình thành ở Nhật Bản từ năm 1834. Ngoài tên gọi là Kiriko, nó còn có nhiều tên khác như: “Kiriko-Garasu”, “Kiriko-Zaiku”.

Có hai loại chính của Kiriko truyền thống, đó là: Edo Kiriko và Satsuma Kiriko, tuy nhiên chúng có nhiều khác biệt.

Edo Kiriko có nguồn gốc từ Edo, vốn là tên cũ của Tokyo. Sáng lập Edo Kiriko được cho là Kagaya Kyubei. Sau khi Kagaya Kyubei hoàn thành nghiên cứu của mình tại Osaka, một thành phố đã phát triển các phương pháp sáng tạo về sản xuất thủy tinh, ông quay trở lại Odenmacho, Edo và mở một cửa hàng thủy tinh sản xuất nhiệt kế và kính đeo mắt vào năm 1834.

Kiriko 5

Thuỷ tinh dùng cho Edo Kiriko có ít nhất hai lớp: lớp ngoài có màu và lớp trong thì trong suốt. Một nghệ nhân sẽ khắc tạo hoa văn lên lớp thuỷ tinh bên ngoài. Quá trình này gồm 6 bước cơ bản:

Bước 1: Waridashi. Mẫu vật thô được đặt trên bàn xoay, người thợ dùng bút màu đặc biệt để phác thảo những đường cơ bản định hướng việc cắt gọt. Tương tự như một hoạ sĩ truyện tranh chia khung và phác khối thô định hình nhân vật, tính cá nhân của người khắc Edo Kiriko được thể hiện ngay từ công đoạn tạo đường cơ bản này. Ngày nay, ta có thể vẽ lên thuỷ tinh một cách dễ dàng nhưng thuở Edo Kiriko còn sơ khai, nghệ nhân phải dùng que tre để có thể tạo nét lên thuỷ tinh.

Bước 2: Arazuri. Mẫu vật với những đường vẽ cơ bản sẽ được chạm khắc bằng một đĩa cắt quay ở tốc độ cao làm bằng vật liệu rất cứng, bề mặt phủ bột kim cương. Nghệ nhân không thể chỉ nhìn các đường nét có sẵn mà phải phác hoạ rất nhiều trong đầu cần cắt như thế nào, vì thế hình dạng, độ nông sâu của từng vết cắt đều phản ánh sự tinh tế và lành nghề của người tạo ra nó.

Bước 3: Sanbankake. Bột nhám mịn hơn được sử dụng cùng với đĩa kim loại ở bước trước để phục vụ việc khắc hoa văn chi tiết hơn. Độ rộng dài, nông sâu và hình dáng của từng vết cắt được tỉ mỉ thực hiện để tạo nên hoa văn mong muốn. Đây là công đoạn quan trọng quyết định tạo hình của các hoa văn hiện hữu trên thành phẩm.

Kiriko 3

Bước 4: Ishikake. Dùng một đĩa đứng bằng đá mài để mài bóng những vết cắt, đem đến vẻ lấp lánh cho bề mặt thuỷ tinh. Nếu bước này làm không tốt, thành phẩm sẽ không thể nào đạt được độ tinh xảo mong muốn.

Bước 5: Migaki. Nghệ nhân dùng gỗ, nút bần hoặc cao su để đánh bóng từng vết cắt một cách cẩn thận. Gần đây, một số kỹ thuật mới như đánh bóng bằng axit cũng được sử dụng để giảm thiểu thời gian, tuy nhiên các nghệ nhân trung thành với truyền thống vẫn sẽ miệt mài chăm chút từng vết chạm khắc bằng chính đôi tay của mình.

Bước 6: Bafukake. Bước cuối cùng là phủ chất mài mòn (chất đánh bóng) kín mặt thuỷ tinh và đánh bóng thêm lần nữa. Chọn loại chất đánh bóng nào và số lượng bao nhiêu tuỳ thuộc vào mỗi nghệ nhân. Thành quả sau cùng chính là những tạo tác Edo Kiriko lung linh bóng bẩy.

Đặc trưng của Edo Kiriko là kỹ thuật cắt sâu, dứt khoát, chính xác và tinh xảo. Nếu quan sát kỹ mặt cắt của sản phẩm, chúng ta dễ dàng nhận thấy vô số hoa văn hình học tinh xảo, giúp người sử dụng sản phẩm cầm nắm dễ dàng hơn. Ngoài ra, do được làm từ loại kính trong, kết hợp với đường cắt phức tạp nên Edo Kiriko phản chiếu ánh sáng lung linh của cầu vòng ngũ sắc.

Kiriko 2

Và điểm cuốn hút nhất của Edo Kiriko có lẽ nằm ở những họa tiết được chạm khắc quá mức tỉ mỉ, luôn thoả mãn thị giác của người sử dụng. Đa số các mẫu họa tiết này đều lấy cảm hứng từ trang phục và vật dụng truyền thống của Nhật Bản. Đơn cử như Hakkaku Kagome là hoạ tiết hình bát giác lấy cảm hứng từ các mũi đan trên tấm lưới tre quen thuộc ở làng quê Nhật xưa, trong khi Yarai dựa trên sự kết hợp của hàng rào tre và gỗ thời bấy giờ. Hoa cúc và lá hình lục giác – những họa tiết phổ biến trên Kimono – cũng thường xuyên được thể hiện trên các sản phẩm Edo Kiriko.

Trong số các sản phẩm Edo Kiriko, sản phẩm được yêu thích là chén uống rượu lạnh hoặc bình đựng rượu…Vẻ đẹp trong suốt của Edo Kiriko rất thích hợp khi uống rượu Nhật, làm phong phú thêm cho bàn ăn khi tiếp khách. Hiện tại, Edo Kiriko được chính thức công nhận là “Thủ công truyền thống” của cả Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật cũng như chính quyền thành phố Tokyo.

Vì được sản xuất tại thị trấn Satsuma, thuộc tỉnh Kagoshima hiện nay, nên Satsuma Kiriko trở thành tên gọi chính thức của dòng sản phẩm thủy tinh truyền thống ở Nhật Bản. Satsuma Kiriko ra đời vào thế kỷ 19, khoảng cuối thời Edo bởi gia tộc Satsuma thuốc triều đại phong kiến Shimazu Narioki.

Kiriko 8

Một kiểu chạm khắc thủy tinh khác là Satsuma Kiriko ở phiên Satsuma (tỉnh Kagoshima ngày nay, thuộc Kyushu, phía Nam Nhật Bản). Satsuma Kiriko xuất hiện từ những năm 1840. Khi đó, vị lãnh chúa phong kiến thứ 26 (vị lãnh chúa cai trị lãnh thổ vào thời điểm đó) của Satsuma (nay là tỉnh Kagoshima) là Shimazu Narioki đã bắt đầu sản xuất các sản phẩm thủy tinh, khởi nguồn cho sự ra đời của Satsuma Kiriko. Narioki tập trung vào sản xuất dược phẩm và đã mời thợ chế tác thủy tinh Shimoto Kamejiro từ Edo (nay là Tokyo) đến để sản xuất loại thủy tinh chịu được kích ứng từ hóa chất.

Sau đó, đến thời của vị lãnh chúa phong kiến thứ 27 là Shimazu Nariakira, kỹ thuật chế tác thủy tinh phát triển nhanh chóng nhờ vào chính sách hiện đại hóa. Những người thợ đã thành công trong việc phát triển kỹ thuật tạo màu cho thủy tinh, loại thủy tinh có màu hồng đậm tuyệt đẹp đã được đặt tên là “Thủy tinh hồng của Satsuma”. Chính sách hiện đại hóa cùng với sự phát triển vượt bậc về kĩ thuật đã biến hoạt động sản xuất thủy tinh Satsuma trở thành một môn nghệ thuật, thu hút sự chú ý không chỉ từ Nhật Bản mà cả từ nước ngoài. Tuy nhiên, sự phát triển của Satsuma Kiriko đã đột ngột dừng lại. Cái chết đột ngột của Shimazu Nariakira vào năm 1858 làm cho ngành công nghiệp sản xuất thủy tinh Satsuma Kiriko bị thu hẹp về tài chính. Đồng thời, chiến tranh Satsuma (trận chiến giữa phiên Satsuma và Anh năm 1863) diễn ra cùng thời điểm đó đã làm cho ngành sản xuất bị phá hủy. Chỉ trong vòng hơn 20 năm, ngành sản xuất thủy tinh Satsuma Kiriko đã bị đình trệ hoàn toàn.

Khoảng 100 năm sau, khi thủy tinh Satsuma Kiriko chỉ còn là kí ức, dự án khôi phục ngành sản xuất thủy tinh Satsuma Kiriko đã được diễn ra vào năm 1985. Với sự hợp tác của tỉnh Kagoshima, dự án được tiến hành chủ yếu bởi Công ty TNHH Shimadzu, và cùng năm đó, “Công ty TNHH thủ công mĩ nghệ thủy tinh Satsuma” được thành lập. Các thợ thủ công chế tác thủy tinh và các chuyên gia từ khắp nơi trên đất nước đã tập trung lại để khôi phục sản xuất dựa vào việc tham khảo một số tài liệu liên quan còn sót lại và các sản phẩm thật. Kết quả là thủy tinh màu khi đó đã được tái hiện lại một cách chân thực, và ngày nay nhiều sản phẩm mới với nhiều màu sắc đang được bán trên thị trường.

Satsuma Kiriko sử dụng thủy tinh phủ màu độc đáo, tông màu đậm hơn và các nét cắt cũng lớn hơn so với Edo Kiriko. Đặc trưng của Satsuma Kiriko là phương pháp tạo màu nhạt dần. Khi nhìn vào bề mặt của các vết cắt trên nền thủy tinh, chúng ta có thể nhìn thấy màu sắc trang trí dọc theo đường cắt chuyển từ màu đỏ sậm ở trung tâm sang nhạt dần về hai bên. Kỹ thuật vẽ màu nhạt dần được đánh giá là kỹ xảo độc đáo ra đời tại Nhật Bản.

Kiriko 4

Được biết, nghệ nhân Satsuma Kiriko nổi tiếng với bí quyết tạo màu nhạt dần trên thủy tinh. Trong tiếng Nhật, kỹ thuật đó được gọi là “Bokashi” – một trong những sáng tạo độc đáo của người làm thủy tinh, góp phần hình thành nên nét đặc thù cho dòng sản phẩm này. Trước khi tạo hình cho sản phẩm, người thợ sẽ ốp lớp thủy tinh màu lên bên ngoài lớp thủy tinh trong suốt. Kỹ thuật tạo màu nhạt dần bokashi tiếp tục được thực hiện với công đoạn cắt gọt trên lớp thủy tinh dày Satsuma Kiriko. Những vết cắt xuyên qua lớp thủy tinh màu bên ngoài ăn sâu vào phần thủy tinh trắng tinh khiết bên trong. Đó là yếu tố cốt lõi của kỹ thuật tạo màu nhạt dần Bokashi.

Khác với dòng sản phẩm thủy tinh khắc hoa văn Edo Kkiriko chỉ tập trung vào màu trắng, các sản phẩm của Satsuma Kiriko chú trọng vào 2 tông màu đỏ và xanh. Ngoài ra, đường cắt trang trí trên thủy tinh Satsuma Kiriko cũng lớn hơn.

Từ thủy tinh, người Nhật bắt đầu chuyển kỹ thuật này sang chế tác pha lê và hiện ở Nhật Bản, xưởng chế tác pha lê lâu đời nhất phải nói đến Kagami. Ra đời vào năm 1934 tại thành phố Ryugasaki tỉnh Ibaraki, cha đẻ của công ty cũng chính là Kozo Kagami- một nghệ nhân có kỹ năng chế tác thủy tinh và pha lê điêu luyện, từng có thời gian học tập tại Đức và năm 1927.

Kiriko 7

Với những kỹ thuật từ tạo hình, cắt gọt, mài dũa, đánh bóng đã phát triển nhiều năm ở Nhật Bản, ông Kozo Kagami đã ứng dụng thêm kỹ thuật phương Tây kết hợp với đường nét, chi tiết đậm tính Á Đông có từ thời kỳ Edo (1603-1868), các sản phẩm của Kozo Kagami tạo ra sản phẩm không chỉ lthủ công đơn thuần mà còn mang đậm tính nghệ thuật. Chỉ 9 năm sau khi thành lập, các sản phẩm của Kagami đã nổi tiếng thế giới qua các triển lãm ở Chicago, Paris, New York,…

Thậm chí, vào năm 1943, Hoàng gia Nhật Bản đã sử dụng pha lê Kagami trong lễ cưới của Công chúa ShigekoHigashikuni và Hoàng tử Morihiro Higashikuni. Và đến tận ngày nay, Hoàng gia Nhật Bản, các vị Đại sứ và Lãnh sự Nhật Bản ở hơn 250 quốc gia trên thế giới vẫn sử dụng đồ pha lê Kagami. Điển hình là tại hội nghị thượng đỉnh cấp cao Nhật Mỹ tháng 4/2014, khi cựu Tổng thống Obama đến thăm Nhật Bản, đã nhận được món quà đặc biệt từ Thủ tướng Shinzo Abe là chiếc bình rượu Sake cùng với hai chén rượu màu xanh và hồng do xưởng Kagami chế tác.

Giờ đây, xưởng này đồng thời cũng là một nhà bảo tàng, nơi trưng bày các tác phẩm của người sáng lập Kozo Kagami và chặng đường phát triển của Kagami với những tác phẩm có giá trị, đại diện tiêu biểu cho ngành chế tác thủy tinh, pha lê Nhật Bản…

Quả thật, nghệ nhân Nhật Bản nói chung vẫn luôn nổi tiếng với sự nhạy cảm và chi tiết. Vẻ đẹp tinh tế của những đường thẳng hoàn hảo được chạm khắc trên bề mặt thuỷ tinh, những hoa văn li ti đòi hỏi bàn tay gọt giũa điêu luyện đến từng góc cạnh nhỏ nhất, hay ưu tiên lựa chọn mẫu hoạ tiết chỉ cần nhìn là nghĩ đến “đất nước mặt trời mọc”, tất cả tạo nên những sản phẩm rất Nhật, như tiêu biểu cho gu thẩm mỹ truyền thống của xứ sở này.

Chắc hẳn du khách sẽ rất thích thú với những sản phẩm tinh tế được tạo ra từ nghệ thuật Kiriko. Vậy thì còn chần chừ gì nữa, du khách hãy Book Tour Nhật Bản của chúng tôi để khám phá thêm về Kiriko và tìm mua cho mình những sản phẩm đẹp mắt thôi nào!

bong chay 10

Bóng chày – môn thể thao quốc dân đầy mê hoặc ở “xứ Phù Tang”

Khi nhắc đến thể thao Nhật Bản, hẳn nhiều người sẽ nghĩ đến Bóng đá, Bóng bầu dục, Bóng chuyền hay Sumo. Thế nhưng, ở “xứ Phù Tang”, môn thể thao được yêu thích nhất lại là Bóng chày.

Bóng chày, được người Nhật gọi là “野球” (Yakyuu), nghĩa đen là “bóng sân”, là một hiện tượng quốc gia ở Nhật Bản. Masaoka Shiki, một trong bốn bậc thầy Haiku vĩ đại của Nhật Bản, đã viết một số bài thơ ca ngợi môn thể thao này. Bóng chày thậm chí còn phổ biến hơn cả môn Sumo truyền thống của “đất nước mặt trời mọc”.

Theo dữ liệu do Dịch vụ Nghiên cứu Trung ương của Nhật Bản công bố vào năm 2018, 48% người được hỏi cho rằng bóng chày là môn thể thao yêu thích của họ. Đấu vật Sumo và bóng đá xếp ở vị trí thứ hai với tỷ lệ khoảng 25% mỗi môn.

Trò tiêu khiển yêu thích của người Mỹ, bóng chày, hiện đã trở nên phổ biến ở Nhật Bản đến nỗi rất nhiều người ở đây còn tưởng rằng bóng chày có nguồn gốc từ quốc gia Châu Á này. Đây là sự kiện thể thao được nhiều người tham dự nhất trong cả nước Nhật và là sự kiện thu hút đông đảo người hâm mộ từ mọi tầng lớp.

Lịch sử bóng chày ở Nhật Bản

Bóng chày du nhập vào Nhật Bản vào năm 1872 bởi một giáo viên tiếng Anh người Mỹ tên là Horace Wilson, người đã giảng dạy tại Học viện Kaisei Tokyo. Đó là đầu thời kỳ Minh Trị (1868-1912), thời kỳ mà việc áp dụng các phong tục và tập quán từ phương Tây rất thịnh hành.

Môn thể thao này đã không phổ biến trên toàn Nhật Bản cho đến khi Thế chiến II kết thúc. Trong thời kỳ Mỹ chiếm đóng Nhật Bản, các lính Mỹ đã quảng bá rất nhiều cho môn thể thao này. Các huyền thoại bóng chày như: Babe Ruth, Lou Gehrig và Joe DiMaggio đã thành lập một giải đấu All-Star và thi đấu với các cầu thủ địa phương Nhật Bản.

bong chay 9

Bất chấp việc các cầu thủ Nhật Bản thua cuộc, cảnh tượng này đã tạo nên sự chấn động trên khắp đất nước. Điều đó đã khiến người Nhật cải thiện cấu trúc giải bóng chày nghiệp dư của họ và dẫn đến việc thành lập một giải đấu bóng chày chuyên nghiệp vào tháng 12/1934. Đội bóng chày đầu tiên của Nhật Bản, Tokyo Giants, ban đầu được đặt tên là “Câu lạc bộ Dainippon Tokyo Yakyu” đã chơi trận đấu chuyên nghiệp đầu tiên của họ ở Nagoya vào tháng 2/1936. Tuy nhiên, bóng chày chỉ được công nhận rộng rãi sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trở thành môn thể thao đồng đội phổ biến nhất của đất nước kể từ đó.

Cũng trong suốt thời gian môn bóng chày phát triển ở Nhật Bản, nó đã có nhiều sự thay đổi, chẳng hạn như bóng chày của Nhật là có thể chấp nhận tỉ số hòa, nhưng Mỹ thì ngược lại. Theo luật bóng chày của Mỹ nếu không có tỉ số chênh lệch, họ sẽ bắt buộc phải tổ chức thêm các hiệp phụ cho đến khi tìm được đội chiến thắng. Nhật Bản sử dụng loại bóng và gậy nhỏ hơn so với Mỹ. Hơn nữa, việc khiêu khích đối thủ không được ủng hộ ở Nhật Bản, dù điều này khá phổ biến ở Mỹ. Những sự thay đổi này là để phù hợp với văn hóa và xã hội Nhật Bản, nhưng dù thay đổi thế nào thì tinh thần thể thao vẫn luôn được đề cao.

Những phẩm chất có trong bóng chày Nhật Bản

Những chuyên gia đã chỉ ra rằng các đặc điểm chính của trò chơi hấp dẫn này là đạo đức làm việc của người Nhật. Bóng chày phụ thuộc rất nhiều vào tinh thần đồng đội, sự kiên trì và kỷ luật, đó là những phẩm chất mà người Nhật tôn sùng.

Lòng trung thành cũng là một đặc tính được đánh giá cao trong môn thể thao này. Các cầu thủ bóng chày Nhật Bản có xu hướng thi đấu cho duy nhất một đội trong suốt sự nghiệp, mặc dù đôi khi có những cầu thủ được mời chơi tại giải nhà nghề của Mỹ, ví dụ như ngôi sao Nhật Bản Ichiro Suzuki, người đang giữ kỷ lục ấn tượng đánh trúng bóng 262 lần trong một mùa giải tại Mỹ, và một tân binh tên là Shohei Ohtani hiện đang làm dậy sóng tại Mỹ.

Luật bóng chày

Một trận bóng chày gồm có 9 hiệp và không bị giới hạn thời gian như bóng đá. Sau 9 hiệp đó, đội nào có nhiều điểm hơn thì sẽ chiến thắng. Trong từng hiệp, mỗi đội sẽ có hai lượt: tấn công và phòng thủ. Số trọng tài trong mỗi trận không cố định, tuy nhiên thường mỗi trận bóng sẽ có 4 trọng tài, và con số này có thể tăng lên nếu đó là những trận đấu quan trọng.

Mỗi lần thi đấu gồm có 2 đội, mỗi đội 9 người. Trong đó, có một người bắt bóng và một người ném bóng là cố định. Những cầu thủ còn lại thì chạy trên sân để bắt bóng.

bong chay 3

– Cầu thủ ném bóng (Pitcher): Đây là cầu thủ giữ vai trò quan trọng nhất trong đội. Họ sẽ đứng đối diện và ném thẳng về phía cầu thủ bắt bóng. Người ném bóng cũng được coi là một cầu thủ sân trong.

– Cầu thủ bắt bóng (Catcher): Nhiệm vụ chính của họ là chụp và ném trả bóng lại cho pitcher, cố gắng ngăn không cho những cầu thủ đang chạy trên sân bắt được bóng và mang về sân nhà để ghi điểm.

– Cầu thủ thứ nhất (First baseman): Với nhiệm vụ là chụp được những trái bóng ném ra từ đồng đội sân trong, nó khá là đơn giản so với các nhiệm vụ của cầu thủ còn lại.

– Cầu thủ thứ hai (Second baseman): Vị trí này đòi hỏi cầu thủ cần có nhiều kỹ năng để có thể bảo vệ second base.

– Cầu thủ thứ ba (Third baseman): Dù chỉ với nhiệm vụ bắt bóng nhưng vị trí này lại được tăng độ khó lên khi phải ném lại bóng cho cầu thủ thứ nhất và thứ hai.

bong chay 5

– Cầu thủ trung tâm (Shortstop): Với trình độ phòng thủ tốt nhất trong đội bóng, đây là vị trí đòi hỏi tính chính xác và độ nhanh nhạy cao.

– Cầu thủ ngoài sân cánh phải (Right fielder): Đây là cầu thủ với nhiệm vụ phòng thủ phía ngoài sân đứng ngay sau cầu thủ thứ hai của đội bóng.

– Cầu thủ ngoài sân cánh trái (Left fielder): Với nhiệm vụ khá giống với cầu thủ ngoài sân cánh phải, họ chỉ khác vị trí là đứng bên ngoài sân trái và đứng sau cầu thủ trung tâm.

bong chay 4

– Cầu thủ ngoài sân trung lộ (Center fielder): phòng thủ vị trí giữa sân phía sau cầu thủ thứ hai, thường là cầu thủ chạy nhanh nhất trong 3 cầu thủ ở ngoài sân.

Giải đấu chuyên nghiệp và Giải vô địch trung học

Hằng năm ở Nhật Bản có đầy đủ các giải thi đấu bóng chày, từ các giải đấu chuyên nghiệp cho đến những giải đấu của học sinh ở các trường trung học. Dù là giải đấu nào thì cũng được thu hút nhiều người xem và đến cổ vũ. Bóng chày chuyên nghiệp của Nhật Bản như chúng ta đã biết được thành lập từ những năm 1950. Bóng chày Chuyên nghiệp Nhật Bản bao gồm hai giải đấu, Pacific League và Central League, mỗi giải có sáu đội. Các đội liên minh lớn thuộc sở hữu của các tổ chức công ty khác nhau. Central League bao gồm những chú Rồng của Tokyo Chunichi, Những chú hổ Hanshin của Osaka, Những chú Nhạn Yakult và Những Người khổng lồ Yomiuri của Tokyo, Những Ngôi sao Vịnh Yokohama và Cá Chép Hiroshima. Pacific League bao gồm Osaka’s Kintetsu Buffaloes, Tokyo’s Nippon Ham Fighters, Kobe’s Orix Blue Wave, Tokorozawa’s Seibu Lions, Fukuoka Daiei Hawks và Chiba Lotte Marines.

bong chay 6

Bắt đầu từ đầu tháng 4, các đội tham gia 130 trận đấu tại thành phố quê hương của họ và các thị trấn trong khu vực mà không có đại diện của các đội chuyên nghiệp. Sau đó, các nhà vô địch ở các giải đấu đó sẽ cạnh tranh chức vô địch quốc gia cuối mùa giải vào tháng 10. Tất cả các trận đấu này đều được phát sóng trên toàn quốc và thu hút hàng chục triệu khán giả.

Bóng chày cũng rất phổ biến ở cấp trung học Nhật Bản. Kể từ năm 1915, các cầu thủ bóng chày trung học đã tham gia vào các giải vô địch quốc gia được tổ chức vào tháng 4 và tháng 8 hàng năm. Khoảng 4.000 đội tham gia giai đoạn đầu và các đội hàng đầu từ 47 quận của đất nước sẽ tụ họp tại Hyogo cho giải đấu Koshien kéo dài 10 ngày. Không giống như ở Mỹ, nơi các trận đấu bóng chày dành cho học sinh trung học chỉ thu hút vài trăm khán giả, các trận đấu ở trường trung học Nhật Bản thu hút hàng triệu khán giả và được phát sóng trên toàn quốc. Những người chơi xuất sắc nhất trong các giải đấu này sẽ thu hút được sự chú ý và trở thành những người nổi tiếng chỉ sau một đêm. Các đội chuyên nghiệp cũng triển khai tuyển trạch viên theo dõi và tuyển chọn những cầu thủ mới tốt nhất vào vòng đấu chuyên nghiệp.

Hòa mình vào một trận bóng chày

Vé thường có giá từ 3.000 Yên đến 10.000 Yên (tương đương 27-90 USD), có thể mua tại sân vận động vào ngày thi đấu (mặc dù có thể hết vé cho các trận cuối tuần và ngày lễ). Mua vé trực tuyến cũng phổ biến, hầu hết các trang bán vé đều bằng tiếng Nhật.

Các trận bóng chày của Nhật Bản được đánh giá rất thu hút, ngay cả những người không theo dõi môn thể thao này cũng sẽ thấy rất hào hứng khi xem.

bong chay 1

Ngoài sân cỏ, bóng chày ở Nhật Bản không chỉ là một môn thể thao dành cho khán giả. Mỗi trận đấu đều dành riêng một khu vực rộng lớn dành cho đội cổ vũ. Các đội cổ vũ thường có đồng phục riêng cho các thành viên nam và nữ, có người dẫn dắt đứng đầu với nhiệm vụ chính là khích lệ khán giả cổ vũ cho đội nhà, mang lại sự nồng nhiệt cho trận đấu. Họ thường được tập hợp thành từng đội với trang phục đồng nhất, gợi cảm, tay cầm chùm hoa, nhảy múa theo các vũ điệu đã được tập dượt thành thục hoặc theo các tình tiết phát sinh trong trận thi đấu.

bong chay 2

Sự vui vẻ với một chút say sưa là một yếu tố khác tạo nên sự náo nhiệt trong những trận đấu bóng chày. Trên khán đài, thường có những người phụ nữ đi bộ qua khắp các hàng ghế với những chiếc thùng nặng trĩu bia lạnh và các loại rượu bán cho khán giả. Khán giả cũng được khuyến khích mang theo đồ uống và thực phẩm, nhưng phải sử dụng cốc do sân vận động cung cấp.

Bóng chày – một phần văn hóa của người Nhật

bong chay 7

Với một đất nước có tỷ lệ béo phì thấp nhất thế giới, từ khi còn nhỏ, việc chú trọng vào thể thao cho con trẻ được các bố mẹ Nhật đặc biệt quan tâm. Bóng chày là một sự lựa chọn ưu tiên khi các em đã quen với những bài thể dục hàng ngày. Bóng chày cũng được đưa vào giảng dạy như một môn học chính thức bắt buộc tại Nhật Bản từ cấp tiểu học. Không chỉ vậy, kể cả những người đã có tuổi, đây cũng là một môn thể thao không thể thiếu mỗi khi rảnh rỗi.

Các giải đấu được tổ chức thường xuyên ở khắp nơi trên cả nước từ cấp trung học cho tới cấp đại học. Hầu như tất cả mọi người đều thể hiện sự ủng hộ tuyệt đối dành cho đội bóng đại diện cho tỉnh của họ khi được tham gia các giải vô địch toàn quốc. Người Nhật đã coi bóng chày trở thành một phần văn hóa của họ, rất khó để tách tình cảm mà người hâm mộ bóng chày Nhật Bản dành cho đội của họ với tình yêu của những thành phố mà các đội này đại diện. Do đó, khi du khách đi bộ xuống phố, du khách có thể nhận ra màu sắc của các đội bóng chày địa phương hầu như ở khắp mọi nơi. Bên cạnh đó, du khách sẽ bắt gặp các cửa hàng bán áo đấu, móc chìa khóa, cờ hiệu, bóng chày có chữ ký và lịch đều được trang trí bằng biểu tượng của đội bóng chày của thành phố. Không chỉ các đội chuyên nghiệp mới có lượng người hâm mộ trung thành. Du khách thường có thể thấy mọi người ngừng các hoạt động bình thường của họ và đổ xô đến sân chơi bóng, nghe đài hoặc xem truyền hình bất cứ khi nào một đội bóng thiếu niên ít được biết đến thi đấu. Họ có thể chưa bao giờ nghe nói về đội bóng đó cũng như họ làm điều đó đơn giản vì họ yêu thích bóng chày. Không chỉ có các chàng trai mà ngay cả người già và các cô gái Nhật Bản cũng thường xuyên luyện tập bóng chày. Vì thế, các sân bóng chày còn dễ dàng tìm thấy hơn rất nhiều so với sân bóng đá mini như tại Việt Nam.

bong chay 8

Người Nhật yêu bóng chày, đến mức đem nó vào cả Manga. Những bộ truyện này được hưởng ứng rất nhiệt tình, không lấy làm lạ khi các bộ truyện tranh bóng chày huyền thoại như: Captain, Touch, Major,… từng làm chao đảo thị trường Manga Nhật Bản trong một thời gian dài.

Ở Nhật Bản, các cậu con trai thường nói đùa với nhau rằng: “Nếu không biết chơi bóng chày thì sẽ khó tìm được bạn gái, nếu bạn chơi bóng chày giỏi thì sẽ có rất nhiều cô gái theo đuổi bạn”. Nhiều cầu thủ bóng chày nổi tiếng, từng chơi cho các đội bóng nước ngoài và đạt được nhiều danh hiệu như: Ichiro Suzuki, Shohei Ohtani, Hideki Matsui trở thành những thần tượng trong lòng nhiều người Nhật. Họ cũng được coi là biểu tượng của tính cách con người Nhật Bản, mang văn hóa Nhật Bản ra thế giới.

Qua bài viết, hi vọng giúp du khách biết nhiều hơn về môn Bóng chày được người Nhật yêu thích và những nét văn hóa truyền thống của “xứ sở hoa anh đào”. Nếu du khách muốn khám phá nhiều hơn, hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Nhật Bản nhé!

dich vu tang le cho thu cung 4

Tang lễ dành riêng cho vật nuôi tại Nhật Bản

Ngày nay, thú cưng như chó mèo được nhiều người Nhật xem như một thành viên chính thức trong gia đình, vì vậy, nhiều người chủ mong muốn thực hiện các nghi thức tang lễ để tiễn đưa chúng sang thế giới bên kia. Do vậy, nhu cầu tổ chức tang lễ chính thức và đầy đủ dành cho thú cưng qua đời tại Nhật Bản ngày càng tăng, thậm chí còn có cả ngôi chùa trang bị một lò hoả táng riêng dành cho chúng. 

Phật giáo du nhập vào Nhật khoảng 1.500 năm trước và những tranh luận về điều xảy ra với vật nuôi sau khi mất không phải là chủ đề được quan tâm nhiều trong những thế kỷ trước. Tuy nhiên, xã hội Nhật Bản đang thay đổi khi con người ngày càng gắn bó với thú cưng. Trước đó, vật nuôi vẫn thường được nuôi ở ngoài vườn hoặc trong sân nhà, nhất là các chú chó, nhưng trong vài thập kỷ trở lại đây, ngày càng có nhiều người sống trong các căn hộ và thú cưng được nuôi trong nhà như một thành viên trong gia đình. Và khi chúng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong gia đình, chủ nuôi càng muốn tổ chức các nghi lễ mai táng đầy đủ cho thú cưng. Do vậy, rất nhiều ngôi chùa tại các thành phố lớn ở Nhật nhận được nhiều yêu cầu tổ chức tang lễ Phật giáo cho vật nuôi.

Ngay lập tức, rất nhiều vị sư đã từ chối yêu cầu vì họ cho rằng việc con người và vật nuôi được đoàn tụ sau khi chết không có ý nghĩa theo giới luật Phật giáo. Thêm vào đó, hoả táng một con vật và đặt tro cốt của nó vào nghĩa trang của chùa cùng với con người sẽ gây ra sự khó chịu cho những gia đình khác.

dich vu tang le cho thu cung 1

Khác với những ngôi chùa từ chối tổ chức tang lễ cho vật nuôi, Kannouji ở Setagaya, Tokyo lại rất hoan nghênh việc này. Đây cũng là nơi chăm sóc những chú mèo đi lạc nên được đặt biệt danh là “Chùa mèo”. Khoảng 15 năm trước, Narita Junkyou – vị chủ trì của chùa Kannouji đã bắt đầu cung cấp dịch vụ tang lễ cho thú cưng. Đặc biệt, chùa còn đáp ứng mong muốn của người chủ muốn được chôn cất cùng thú cưng. Điều này dẫn đến việc chùa đã bắt đầu bán các mảnh đất dành cho việc chôn cất đặc biệt gọi là “mộ chôn cùng thú cưng”.

Ngôi mộ chôn cùng thú cưng được thiết kế với một không gian riêng để đặt tro cốt của vật nuôi cạnh tro cốt của người chủ. Ông Narita Junkyou tin rằng điều này vừa cho phép chùa đáp ứng mong muốn của chủ nuôi, vừa không làm ảnh hưởng đến các gia đình khác có người thân được chôn cất tại nghĩa trang chùa. Hiện tại, tỉ lệ tổ chức đám tang và lễ tưởng niệm dành cho vật nuôi tại chùa đã cao hơn rất nhiều lần so với tang lễ dành cho người. Thậm chí, trong khuôn viên chùa còn có một lò hoả táng đặc biệt dành cho thú cưng. Những nỗ lực của chùa Kannouji được đánh giá là khá tiến bộ so với những ngôi chùa khác tại Nhật.

dich vu tang le cho thu cung 2

Dần dần, các công ty tư nhân đã có nhiều loại hình dịch vụ cho chủ vật nuôi lựa chọn, hỏa táng riêng hoặc hỏa táng tập thể. Nếu muốn, họ cũng có thể yêu cầu một nhà sư đọc kinh trước khi hỏa táng. Ngoài ra, các công ty còn kết hợp với nhiều ngôi đền để cung cấp dịch vụ “làm giỗ đầu” cho các con vật nuôi.

Một nghĩa trang ở thủ đô Tokyo còn quảng cáo những phần mộ dành cho chó mèo, góp phần mở rộng thị trường đặc biệt này và thu hút được sự quan tâm của nhiều người nuôi chó mèo.

Công ty tư vấn JPR ở thành phố Yokohama ước tính rằng thị trường “chuyện hậu sự” cho vật nuôi trị giá hơn 12.000.000.000 Yên.

Tuy nhiên, do thiếu khuôn khổ pháp lý mà những rắc rối xung quanh nơi hỏa táng và phí dịch vụ tang lễ đã nảy sinh.

Không phải lúc nào cũng có thể chọn được một công ty cung cấp dịch vụ tang lễ phù hợp khi mà có tới 1.000 công ty tư nhân trên khắp Nhật Bản. Một chuyên gia đưa ra lời khuyên: “Tốt hơn hết là thu thập thông tin trên mạng Internet, thông qua nguồn tin quen biết hoặc tới các bệnh viện dành cho vật nuôi”.

Giá cả cho một lễ hỏa táng vật nuôi thường là vài chục ngàn Yên và còn tùy thuộc vào trọng lượng của con vật. Trung tâm các vấn đề tiêu dùng quốc gia của Nhật Bản khuyến cáo, để tránh bị hét giá trên trời hoặc không nhận được dịch vụ như mong đợi, các chủ vật nuôi nên xác nhận nội dung hợp đồng bằng văn bản.n Tầm quan trọng của hợp đồng này còn nằm ở chỗ các dịch vụ tang lễ phù hợp có thể giúp hàn gắn nỗi đau và giúp người chủ không phải trải qua cảm giác gọi là “hội chứng mất con vật nuôi yêu quý”.

Trước tình trạng ngày càng có nhiều người muốn làm dịch vụ hỏa táng cho con vật cưng của mình, Tổ chức tang lễ động vật đã ra đời. Ông Ryugen Tanaka, nhà sư trụ trì đền Chofukuji ở quận Osaka và là người đứng đầu tổ chức trên, cho biết: “Chúng tôi đã thống nhất một mức phí chuẩn cho dịch vụ tang lễ là khoảng 30.000 Yên và khoảng 20.000 Yên cho đồ cúng”.

dich vu tang le cho thu cung 3

Chính quyền các địa phương cũng yêu cầu các công ty hỏa táng tuân thủ các quy định để không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Tuy nhiên, vẫn chưa có điều luật nào trực tiếp quản lý hoạt động của những công ty này và thật khó để giải quyết ngay từ đầu những vướng mắc nảy sinh.

Đất nước – văn hóa và con người Nhật Bản còn có rất nhiều nét độc đáo và thú vị “thu hút” khách du lịch trên thế giới đến khám phá. Du lịch Nhật Bản, tham quan những địa danh hấp dẫn và khám phá những nét văn hóa độc đáo ở nơi đây sẽ giúp du khách có thêm nhiều trải nghiệm tuyệt vời!

Inukko Matsuri 4

Inukko Matsuri – lễ hội của những chú chó Akita ở “xứ Phù Tang”

Những chú chó vốn được xem là loài vật trung thành nhất của con người. Hôm nay mời du khách cùng chúng tôi nhìn ngắm các chú chó Akita đáng yêu trong lễ hội Inukko ở “xứ Phù Tang” nhé!

Chắc hẳn du khách đã từng nghe qua câu chuyện về chú chó Hachiko, một huyền thoại về lòng trung thành của đất nước Nhật Bản. Hachiko chờ người chủ đã mất suốt hơn 10 năm đã trở thành một biểu tượng đương đại trong lòng người Nhật. Tại nhà ga Shibuya còn có một bức tượng đồng Hachiko để tưởng nhớ đến chú chó trung thành này.

Tuy nhiên, không phải ai cũng biết Hachiko là một chú chó giống Akita (hay còn gọi là “Akita Inu” trong tiếng Nhật). Đây là một giống chó quý hiếm có nguồn gốc từ tỉnh Akita, vùng Tohoku, phía Bắc Nhật Bản. Akita vốn mạnh mẽ, gan dạ và đầy tình cảm.

Inukko Matsuri 3

Tại thành phố tuyết Yuzawa của vùng Tohoku, có một lễ hội vô cùng đặc biệt tên là Inukko Matsuri với sự tham gia của những chú chó Akita. Mặc dù không chỉ là lễ hội dành riêng cho Akita, nhưng từ lâu đã thu hút rất đông người nuôi Akita đến tham gia.

Lễ hội này đã có lịch sử lâu đời từ hơn 400 năm trước và được tổ chức thường niên vào thứ Bảy và Chủ nhật của tháng 2. Đây là một lễ hội tuyệt vời dành cho những người yêu động vật, nơi du khách có thể gặp gỡ những chú chó siêu đáng yêu.

Inukko Matsuri 2

Đến tham gia lễ hội, những người chủ sẽ mang theo rất nhiều chú chó đáng yêu với đủ các kích cỡ, màu sắc và kiểu lông. Chó và chủ cùng tham gia diễu hành trong ánh mắt ngưỡng mộ của những người đến xem, đặc biệt là trẻ em.

Khi đêm về, khu vực tổ chức được thắp sáng bằng hàng nghìn ngọn nến, tạo cho không gian một vẻ đẹp huyền ảo. Không những thế, màn bắn pháo hoa rực rỡ sẽ diễn ra vào lúc 19h30 ngày thứ Bảy hứa hẹn mãn nhãn người xem.

Inukko Matsuri 1

Đặc biệt hơn cả, đến đây du khách còn được tận mắt ngắm nhìn những tác phẩm điêu khắc bằng tuyết độc đáo. Ở lối vào lễ hội có một ngôi đền hoàn toàn bằng tuyết được canh gác bởi những chú chó Akita tuyết dễ thương. Du khách có thể đến đây để cầu may mắn cho gia đình và cả những chú Akita.

Inaniwa Udon

Du khách cũng có thể dành thời gian để tham quan mua sắm các mặt hàng thủ công địa phương từ vùng Yuzawa tại các gian hàng của người bản địa. Sau đó dành thời gian thưởng thức đặc sản địa phương vô cùng hấp dẫn. Một trong những món phải thử khi đến Lễ hội Akita đó là Mì Inaniwa Udon. Người ta nói, chỉ có ở Yuzawa mới có thể làm ra loại mì này ngon đến vậy. Inanuwa Udon được nhào bột bằng tay theo kỹ thuật độc đáo tạo nên sợi mì dẻo dai nổi tiếng.

Akita Inu museum

Du khách có thể dành thời gian ghé thăm Bảo tàng Akita Inu được xây dựng bởi Akita Inuhozonkai (Hiệp hội bảo tồn Akita). Đây là là bảo tàng duy nhất tại Nhật Bản dựa trên một giống chó. Tại bảo tàng, du khách có thể tìm hiểu thêm về lịch sử của Akita và câu chuyện về chú chó Hachiko.

Nếu có dịp du lịch Nhật Bản vào tháng 2, du khách đừng bỏ qua cơ hội đến với lễ hội này nhé! Chúc du khách có một chuyến đi vui vẻ và thú vị!

obi 13

Obi – chiếc khăn thắt lưng đặc biệt dành cho Kimono Nhật Bản

Du khách có thể hiểu biết nhiều về các loại Kimono của Nhật Bản, nhưng liệu có biết khăn thắt lưng ra sao để có được vẻ thanh lịch nguyên sơ của loại trang phục truyền thống nổi tiếng này không? Đó là nhờ một loại khăn thắt lưng đặc biệt, có tên gọi là Obi.

Lịch sử Obi 

Trong thời kỳ đầu, một chiếc Obi là một sợi dây hoặc một chiếc khăn quấn dạng dây băng, dài khoảng 8cm. Obi của nam và nữ lúc đó tương tự nhau. Vào đầu thế kỷ XVII, cả phụ nữ và đàn ông đều đeo một dạng Obi dây băng. Vào những năm 1680, chiều dài Obi của phụ nữ đã dài gấp đôi so với kích thước ban đầu. Trong những năm 1730, Obi của phụ nữ rộng khoảng 25cm, và đến cuối thế kỷ XIX đã rộng khoảng 30cm. Vào thời kỳ đó, dây băng và dây buộc riêng đã đóng vai trò cần thiết để giữ cho obi cố định. Obi của nam có chiều rộng lớn nhất vào những năm 1730, vào khoảng 16cm.

obi 11

Trước thời kỳ Edo, bắt đầu vào khoảng 1600, những bộ Kosode của phụ nữ được thắt lại bằng một chiếc khăn rộng quấn ở hông. Cách thức đính tay áo rộng vào phần thân của trang phục sẽ có thể cản trở việc sử dụng loại Obi rộng hơn. Khi tay áo của Kosode bắt đầu được may dài hơn (tức là tăng chiều dài) vào đầu thời kỳ Edo, Obi cũng được làm rộng hơn. Có hai lý do cho điều này: trước tiên, để đảm bảo sự cân bằng về thẩm mỹ của trang phục, tay áo dài hơn cần có một chiếc khăn quấn rộng hơn để đi kèm với chúng; thứ hai, không giống như hiện nay (nơi mà chúng chỉ là thói quen của phụ nữ chưa kết hôn), phụ nữ đã kết hôn cũng mặc bộ Kimono dài tay vào những năm 1770. Việc sử dụng tay áo dài mà không để phần dưới cánh tay mở sẽ gây cản trở hoạt động rất nhiều. Phần mở dưới cánh tay này tạo không gian thậm chí cho loại obi rộng hơn nữa.

Ban đầu, tất cả Obi đều được thắt ở mặt trước. Sau đó, thời trang bắt đầu ảnh hưởng đến vị trí của nút thắt, và obi có thể được thắt ở bên hông hoặc sau lưng. Khi Obi trở nên rộng hơn, các nút thắt cũng lớn hơn, và việc thắt Obi ở phía trước bắt đầu trở nên cồng kềnh. Vào cuối thế kỷ XVII, Obi hầu hết được thắt lại ở phía sau. Tuy nhiên, phong tục này không được thiết lập một cách vững chắc trước khi bắt đầu thế kỷ XX.

Vào cuối thế kỷ XVIII, một kiểu mẫu thời trang Kosode mới cho phụ nữ xuất hiện với đường viền áo được may dài tới mức có thể kéo lê phía sau khi ở trong nhà. Khi đi ra khỏi nhà, phần trang phục dư được buộc lại bên dưới Obi bằng một dải vải rộng gọi Shigoki Obi. Kimono đương đại cũng được làm tương tự như vậy trong một thời gian dài, nhưng không được làm để kéo lê dưới đất; phần vải dư được gắn với hông, tạo thành một nếp gấp gọi là Ohashori. Shigoki obi vẫn được sử dụng, nhưng chỉ cho mục đích trang trí.

obi 12

Dạng Obi trang trọng nhất ngày nay đang trở nên lỗi thời. Loại khăn Maru Obi dài và nặng ngày nay chỉ được sử dụng bởi Maiko và các cô dâu như một phần trong trang phục đám cưới của họ. Loại khăn nhẹ hơn là Fukuro Obi đã thay thế vị trí của Maru Obi. Loại khăn ban đầu được dùng hằng ngày là Nagoya Obi là loại Obi phổ biến nhất được sử dụng ngày nay, và những loại rực rỡ hơn thậm chí có thể được chấp nhận là một phần của trang phục bán nghi lễ. Việc sử dụng Musubi, các nút mang tính trang trí, cũng đã bị thu hẹp lại, bây giờ phụ nữ thắt Obi của họ gần như chỉ bằng loại nút đơn giản Taiko Musubi, “nút cái trống”. Loại khăn Tsuke Obi với nút được thắt sẵn cũng đang trở nên phổ biến.

Cơ sở dệt Tatsumura, nằm ở Nishijin, Kyoto, ngày nay là một trung tâm sản xuất loại phụ kiện này. Được sáng lập bởi Heizo Tatsumura I vào thế kỷ XIX, cơ sở này nổi tiếng với việc tạo ra một trong số những Obi sang trọng nhất. Trong số những học viên của ông phải kể đến Dōmoto Inshō, người sau này trở thành một họa sĩ. Kỹ thuật Nishijin-ori rất phức tạp và có thể có hiệu ứng ba chiều, có thể có giá trị lên đến 1.000.000 Yên.

“Học viện Kimono” được sáng lập bởi Kazuko Hattori vào thế kỷ XX, nơi đây có dạy cách làm thế nào để thắt một obi và đeo nó đúng cách.

Obi của nữ

Loại Obi rộng của phụ nữ được xếp làm đôi khi đeo, có chiều rộng khoảng 15cm đến 20cm. Một Obi khi thắt được coi là thanh lịch khi mà chiều rộng bản gấp hài hòa với kích thước cơ thể của người sử dụng. Thông thường, tỉ lệ lý tưởng của phần này là bằng khoảng một phần mười chiều cao của người phụ nữ. Chiều rộng toàn bộ của Obi chỉ được trình bày trong nút thắt trang trí, Musubi.

Một Obi dành cho nữ được đeo với một nút thắt Musubi lộng lẫy. Có tổng cộng 10 để thắt một chiếc Obi, và các nút thắt khác nhau phù hợp với những dịp khác nhau và bộ Kimono khác nhau.

Có nhiều loại Obi dành cho phụ nữ, và việc sử dụng chúng được quy định bởi nhiều nguyên tắc bất thành văn, không khác gì những quy tắc liên quan đến bản thân bộ Kimono. Một số loại Obi được sử dụng với một số loại Kimono; Obi của phụ nữ kết hôn và chưa kết hôn được thắt với nhiều cách khác nhau. Thường thì Obi ảnh hưởng đến độ trang trọng và lộng lẫy của toàn bộ trang phục Kimono: cùng một bộ Kimono có thể mặc trong những tình huống rất khác nhau tùy thuộc vào loại Obi mang với nó.

Obi dành cho nữ có các kiểu sau đây:

obi 1

Maru Obi là loại Obi trang trọng nhất. Nó được may từ một miếng vải rộng khoảng 68cm và được gấp lại quanh lớp lót kép và khâu lại với nhau. Maru Obi nổi tiếng nhất vào thời kỳ Đại Chính và Minh Trị. Độ lớn và khối lượng của chúng khiến người dùng khó làm chủ được Maru Obi, và ngày nay chúng chủ yếu được đeo bởi các Geisha, Maiko và những người tương tự. Một cách dùng khác cho Maru Obi là như một phần trong trang phục của cô dâu trong lễ thành hôn. Maru Obi rộng khoảng 30-35cm và dài khoảng 360-450cm, được thêu hoa văn toàn bộ và thường được trang trí với sợi chỉ và chi tiết trang trí có chạm trổ bọc kim loại.

Darari Obi là một loại Maru Obi rất dài được đeo bởi Maiko. Một Darari Obi của Maiko có dấu hiệu Kamon của người chủ sở hữu Okiya ở cuối vạt khăn. Một Darari Obi có thể dài tới 600cm.

obi 6

Fukuro Obi là một loại kém trang trọng về đẳng cấp hơn Maru Obi. Nó được làm bằng cách xếp làm đôi miếng vải hoặc may hai miếng vải vào nhau. Nếu sử dụng hai miếng vải, loại vải dùng cho mặt sau của Obi có thể rẻ hơn và mặt trước có thể may bằng loại vải như thổ cẩm. Không tính các trang phục kết hôn, Fukuro Obi đã thay thế Maru Obi nặng nề như loại Obi được sử dụng trong lễ nghi và dịp kỷ niệm. Fukuro Obi thường được làm phần không lộ ra khi đeo bằng loại lụa trơn, mỏng và mềm hơn. Một Fukuro Obi rộng khoảng 30cm và dài khoảng 360-450cm.

Fukuro Nagoya Obi được may làm hai ở phần bắt đầu nút thắt Taiko. Phần quấn xung quanh cơ thể được xếp lại khi bắt đầu. Loại Fukuro Nagoya Obi được dùng để tạo ra loại Taiko Musubi hai lớp trang trọng hơn, gọi là Nijuudaiko Musubi. Nó dài khoảng 350cm.

obi 2

Nagoya Obi là loại Obi được phụ nữ Nhật Bản sử dụng nhiều nhất ngày nay. Được thiết kế bởi một phụ nữ đến từ Nagoya, kiểu Obi này được tạo ra để giúp thắt kiểu “Taiko Musubi” dễ dàng hơn. Với loại Obi này, màu sắc sẽ quyết định xem nó là Obi trang trọng hay thông thường. Tất nhiên, nếu có chỉ màu vàng thì chiếc thắt lưng ấy nghiễm nhiên là loại trang trọng. Điều thú vị là họa tiết trên Nagoya Obi không được in phủ toàn bộ, mà thay vào đó, chỉ có mặt trước và trên phần lộ ra của nút Taiko. Nagoya Obi dài khoảng 315-345cm, chiều rộng khoảng 30cm. Vì Nagoya Obi ban đầu được sử dụng như trang phục hàng ngày, nên nó không bao giờ được dùng trong trang phục nghi lễ. Dẫu vậy, nó vẫn rất đẹp.

Kyōbukuro Obi được phát minh vào thập niên 1970 ở Nishijin, Kyoto. Nó có cách dùng phối hợp giữa Nagoya Obi và Fukuro Obi, và có thể được sử dụng để làm nổi bật trang phục thường ngày. Kyōbukuro Obi có cấu trúc giống như Fukuro Obi, nhưng ngắn như một chiếc Nagoya Obi. Do đó, nó cũng có thể được đeo ngược lại từ trong ra ngoài như các loại Obi lộn ngược. Kyōbukuro Obi rộng khoảng 30cm và dài 350cm.

Hoso Obi là một tên gọi tập hợp các loại Obi không trang trọng với một nửa độ dài ban đầu. Loại Obi này rộng 15cm (hoặc 20cm) và dài khoảng 330cm.

Kobukuro Obi là một loại Hoso Obi không viền với chiều rộng khoảng 15cm hoặc 20cm và dài khoảng 300cm.

obi 3

Hanhaba Obi là loại Obi không có viền và không trang trọng được sử dụng với Yukata, loại Kimono mặc thường ngày. Để dùng với Yukata, loại Hanhaba Obi đảo ngược khá phổ biến: chúng có thể được gấp lại và xoắn theo nhiều cách để tạo ra các hiệu ứng màu sắc. Một Hanhaba Obi rộng khoảng 15cm và dài khoảng 300-400cm. Việc thắt loại Obi này tương đối dễ dàng, và việc sử dụng nó không cần có các miếng đệm hoặc dây buộc phụ.

Tenga Obi giống với một Hanhaba Obi nhưng trang trọng hơn. Nó thường rộng hơn và được làm từ loại vải tao nhã hơn, phù hợp hơn với lễ hội. Các hoạ tiết chủ yếu bao gồm các mô típ may mắn và có tính lễ hội. Tenga Obi rộng khoảng 20cm và dài từ 350-400cm.

Sakiori Obi là loại Obi dệt được may bằng cách dùng các dải hẹp hoặc có độ rộng khoảng 1m từ trang phục cũ dệt lại với nhau. Sakiori Obi được dùng với Kimono để mặc ở nhà. Sakiori Obi tương tự như Hanhaba Obi về kích cỡ và rất bình dân.

Hara-awase Obi là một loại Obi không trang trọng, có các mặt có màu khác nhau. Nó thường được thấy trong các tranh ảnh từ thời kỳ Edo và Minh Trị, nhưng ngày nay hầu như không được sử dụng. Một Hara-awase Obi có một mặt màu tối, trang trí nhẹ nhàng và một mặt khác, rực rỡ hơn và vui tươi hơn. Bằng cách này, loại Obi này có thể đeo được trong cả cuộc sống thường ngày và cho lễ hội. Loại Obi này rộng khoảng 30cm và dài khoảng 350-400cm.

obi 4

Heko Obi là một loại Obi rất bình dân được làm từ vải mềm, mỏng, thường được nhuộm với Shibori. Theo truyền thống, nó thường được dùng như một loại Obi không trang trọng cho trẻ em và đàn ông, và đôi khi nó được coi là hoàn toàn không phù hợp với phụ nữ. Ngày nay, các bé gái và phụ nữ có thể đeo Heko Obi với những loại Kimono hiện đại không trang trọng và Yukata. Một Heko Obi cho người trưởng thành rộng khoảng 20-30cm và dài khoảng 300cm.

Hitoe Obi được làm từ loại vải lụa cứng đến mức Obi không cần lớp lót hoặc may cứng lại. Hitoe Obi có thể đeo với Kimono thường ngày hoặc Yukata. Một Hitoe Obi rộng 30cm và dài khoảng 400cm.

Odori Obi là tên gọi của một loại Obi sử dụng trong các động tác nhảy múa. Một chiếc Odori Obi thường to, thêu hoạ tiết đơn và có hoạ tiết có màu kim loại để khán giả có thể dễ dàng nhìn thấy. Odori Obi có thể rộng từ 10-30cm và dài từ 350-450cm.

Tsuke Obi là bất kì loại Obi nào được thiết kế sẵn sàng để thắt. Nó thường có một phần nút riêng rẽ được hỗ trợ bởi bìa và một phần được bao lại xung quanh eo. Tsuke Obi được thắt cố định bởi các dải lụa. Tsuke Obi thông thường rất bình dân và chúng chủ yếu được dùng với Yukata.

Obi dành cho nam giới Nhật Bản

Các loại Obi được nam giới sử dụng có bề rộng hẹp hơn nhiều so với các loại của phụ nữ (chiều rộng loại lớn nhất chỉ vào khoảng 10cm). Obi dành cho nam được đeo theo kiểu đơn giản hơn nhiều so với phụ nữ: nó được quấn quanh eo, dưới bụng và thắt với một nút đơn giản ở sau lưng.

Có các loại Obi dành cho nam giới “xứ Phù Tang” sau đây:

obi 5

Kaku Obi: Một chiếc Kaku Obi trang trọng rộng khoảng 10cm và dài 400cm và phụ thuộc vào loại vật liệu, màu sắc và hoa văn mà nó có thể phù hợp với bất kỳ thời điểm nào và mọi trường hợp từ trang phục thường ngày đến trang phục cho đám tang của người thân. Kaku Obi thường được làm bằng Hakata Ori (và đó cũng là nguồn gốc của Hakata Obi, có sọc dài), hoặc từ lụa mộc, lụa trong, lụa Damask.

Heko Obi à một loại Obi mềm bình dân, rủ xuống tự do và được làm từ loại vải nhuộm phần thắt nút, được may từ lụa nhiễu đen, habutai, cotton, hoặc các chất liệu khác. Nó được thắt theo kiểu rất bình dân. Heko Obi của người trưởng thành có độ dài ngang với loại obi bình thường từ 350-400cm, nhưng tương đối rộng với chiều rộng đến 74cm. Nam giới trưởng thành chỉ đeo Heko Obi ở nhà, nhưng các chàng trai trẻ có thể mặc nó ở nơi công cộng, ví dụ như trong một lễ hội mùa hè với Yukata.

Obi cho trẻ em

Trẻ em được mặc Kimono đặc biệt vào Lễ hội Shichi-Go-San, dành cho các bé gái lên ba và bảy tuổi, và các bé trai lên năm tuổi. Các bộ trang phục Kimono của trẻ em giống với những bộ của người lớn và các bộ phận của chúng về cơ bản là các phiên bản thu nhỏ từ loại của người trưởng thành. Các bé nhỏ tuổi nhất sẽ đeo các loại Obi mềm giống như khăn quàng cổ.

Có loại Obi dành cho trẻ em Nhật Bản sau đây:

Sanjaku Obi là một loại Obi dành cho nam, có độ dài khoảng 37,9cm. Sanjaku Obi bắt nguồn từ một chiếc khăn quàng cổ có cùng chiều dài, được xếp lại và sử dụng như là một chiếc khăn quấn ở thắt lưng. Một chiếc Sanjaku Obi thường có hình dạng giống như Kaku Obi, hẹp và có các đoạn thêu ngắn. Nó thường được may từ các loại vải mềm như cotton. Bởi chiều dài hạn chế, Sanjaku Obi được thắt theo nút Koma Musubi, giống như một nút kép.

obi 7

Shigoki Obi là vật phẩm hữu dụng để đeo cùng trong thời đại của các bộ Kimono chùng sát đất, từng được sử dụng để buộc cố định độ dài quá mức của trang phục khi đi ra ngoài. Ngày nay, chức năng duy nhất của Shigoki Obi là dùng để trang trí. Nó là một phần của trang phục cho bé gái lên 7 tuổi để chào mừng trong ngày lễ Shichi-Go-San.

Tsuke Obi là một loại Obi phổ biến được sử dụng cho trẻ em vì dễ sử dụng, thậm chí còn có cả loại Tsuke Obi trang trọng cho trẻ em.

Các nút thắt (Musubi)

Nút thắt của Obi được gọi là “Musubi”. Ngày nay, một nút thắt cho phụ nữ thường không chỉ giữ cố định Obi mà còn đóng vai trò như một bộ phận trang trí lớn ở phía sau lưng. Nút thắt thật sự thường được hỗ trợ bởi một số phụ kiện: tấm lót, khăn quàng cổ và dây băng. Khi đeo Obi, đặc biệt khi không có sự hỗ trợ, cần bổ sung thêm một số dây băng tạm thời.

Có hàng trăm loại nút thắt trang trí và chúng thường đại diện cho hoa cỏ hoặc chim muông. Như mọi thứ khác trong trang phục Kimono, các nút thắt được quy định bởi một số quy tắc bất thành văn mang tính quy chuẩn. Nói chung, các nút thắt phức tạp và phô trương hơn dành cho những phụ nữ trẻ chưa lập gia đình trong các dịp lễ hội, loại dịu dàng hơn đối với những phụ nữ đã kết hôn hoặc trưởng thành, hoặc để sử dụng trong các tình huống lễ nghi.

Trước đây, trong thời điểm ban đầu, các nút thắt được được cho là để xua đuổi những linh hồn tà ác. Nhiều loại nút thắt có tên gọi với một ý nghĩa kép tốt đẹp.

Các loại nút thắt:

Asagao Musubi là một nút thắt phù hợp với Yukata. Nút thắt này đòi hỏi một độ dài Obi đủ lớn, nên nó thường chỉ được thực hiện cho các bé gái.

obi 10

Ayame Musubi là một nút thắt mang tính trang trí cao và phức tạp, giống với một đoá hoa diên vĩ. Nó được coi là phù hợp với phụ nữ trẻ trong các tình huống và các bữa tiệc không trang trọng. Do tính phức tạp và sự nổi bật của nó, nút thắt này nên được đeo với các bộ Kimono và Obi dịu nhẹ hơn, trong đó các màu đơn sắc được ưa thích hơn.

Bara Musubi là một nút thắt hiện đại lộ rõ ra phía ngoài. Nó phù hợp với phụ nữ trẻ và có thể mang cho các bữa tiệc không quá trang trọng. Bởi sự phức tạp của nút thắt, một obi nhiều màu hoặc được thêu hoa văn mạnh mẽ không nên được sử dụng. Các hoa văn của bộ Kimono phải khớp với nút thắt biểu trưng cho một loài hoa phương Tây.

Chōchō Musubi được sử dụng cho Hanhaba Obi. Hầu hết các loại Obi thắt sẵn (Tsuke Obi) đều được làm với nút thắt bướm.

Darari Musubi được sử dụng bởi Maiko, vũ công và các diễn viên Kabuki. Nó có thể dễ dàng phân biệt bằng “chiếc đuôi” dài treo ở mặt sau. Trong quá khứ, các quý tộc và con gái của các thương gia giàu có trong số những người khác cũng sẽ được thắt obi theo cách này. Cần phải có một loại Darari Obi đặc trưng, dài khoảng 600cm, để làm nút này đủ dài. Cũng tồn tại một phiên bản với nửa độ dài của Darari Musubi, gọi là “Handara Musubi”.

obi 9

Fukura-suzume Musubi là một nút mang tính trang trí tương tự như một con chim sẻ với đôi cánh của nó dang rộng và chỉ được đeo bởi phụ nữ chưa lập gia đình. Nó phù hợp cho những dịp trang trọng và chỉ mang với Furisode. Theo truyền thống, Fukura-suzume Musubi đeo với Furisode cho thấy một phụ nữ đã sẵn sàng để kết hôn.

Kai-no-kuchi Musubi là một loại Obi nhẹ nhàng thường được nam giới sử dụng. Đôi khi phụ nữ lớn tuổi hoặc phụ nữ đang tìm kiếm một vẻ nam tính cho trang phục của họ sẽ thắt Obi của họ với nút này.

Koma Musubi thường được sử dụng với dây Haori và Obijime. Loại Sanjaku Obi ngắn cho trẻ em cũng được thắt theo cách này.

Taiko Musubi là loại nút thắt được sử dụng nhiều nhất hiện nay. Nó đơn giản, nhẹ nhàng và giống hình cái hộp. Taiko Musubi phù hợp với cả phụ nữ lớn tuổi và trẻ em trong hầu hết các dịp và đi cùng với bất kỳ loại Kimono nào, và trong một số trường hợp thậm chí phù hợp với cả Yukata. Chỉ có Furisode được xem là quá trang trọng và trẻ trung khi được mang với Taiko Musubi.

Nijūdaiko Musubi là một phiên bản của loại Taiko Musubi phổ biến, được đeo với loại Fukuro Obi trang trọng. Fukuro Obi có chiều dài lớn hơn loại được sử dụng phổ biến hơn là Nagoya Obi, vì vậy Obi phải được gấp đôi lại trong suốt lúc thắt nút. Nút thắt này có một ý nghĩa may mắn kép là “niềm vui nhân đôi”.\

obi 8

Tateya Musubi giống như một cây cung lớn và là một trong những loại Musubi đơn giản nhất đeo với Furisode. Theo tác giả về nghệ thuật Kitsuke Yamanaka Norio, nó là nút rất thích hợp để được sử dụng với Honburisode, là Furisode với tay áo đầy đủ độ dài.

Washikusa Musubi về cơ bản là một cây cung tương tự như một cây trồng nào đó trông giống như một con đại bàng đang bay.

Diện một bộ trang phục Kimono kèm theo chiếc thắt lưng Obi như diện lên một tác phẩm nghệ thuật trên người. Và bởi vậy, vẻ đẹp của chúng không chỉ là nguồn cảm hứng sáng tạo cho những nhà thiết kế mà còn là niềm tự hào của con người “xứ Phù Tang”. Du lịch Nhật Bản, ngắm nhìn bộ trang phục Kimono kèm theo chiếc thắt lưng Obi tuyệt đẹp, chụp những bức hình với bộ trang phục ấy trên quê hương của nó chắc chắn sẽ là trải nghiệm khó quên với mọi khách du lịch.

Doraemon 7

Doraemon – biểu tượng của văn hóa Nhật Bản

Doraemon là nhân vật trong bộ truyện tranh nổi tiếng cùng tên của Nhật Bản, đã phủ sóng trên nhiều quốc gia lớn nhỏ, đã mang đến cho hàng ngàn trẻ em trên thế giới nhiều câu chuyện về tình thân và tình bạn. Doraemon được xem là một biểu tượng cho tuổi thơ ngọt ngào.

Ra đời cách đây 50 năm, Doraemon tiếp tục chứng minh sức sống lâu bền, vượt khỏi một bộ truyện tranh thông thường, trở thành biểu tượng văn hóa nhờ nội dung gần gũi với trẻ thơ cùng giá trị giáo dục.

Tên gọi

Cái tên “Doraemon” được tạo ra từ hai từ: “Dora” & “Emon”. Trong đó, từ “Dora” có nghĩa là đi lạc, hay còn được hiểu là điều không mong muốn. “Dora” cũng được dùng để nói về cái gông, ám chỉ thân hình tròn trịa như chú lật đật của Doraemon. Ngoài ra, “Dora” cũng là cụm bắt đầu của từ “Dorayaki” – bánh Pancake nhân đậu đỏ truyền thống của Nhật Bản, cũng chính là món ăn ưa thích của chú mèo máy Doraemon. “Emon” là một loại trạng từ truyền thống cho tên của người hoặc động vật có giới tính nam, ví dụ như Ishikawa Goemon. Như vậy, theo nghĩa đen, tên của Doraemon có thể hiểu là “chú mèo đực bị lạc đường”.

Sự ra đời của nhân vật Doraemon

Doraemon 1

Theo lời kể của ông Hiroshi Fujimoto – cố tác giả truyện Doraemon, trong một đêm khi ông đang loay hoay tìm kiếm ý tưởng và tên nhân vật cho bộ truyện mới, ông đã gặp một con mèo hoang nhảy vào lòng ông mà ngủ. Do lúc ấy đã quá mệt, ông cũng thiếp đi lúc nào không hay, sau khi tỉnh dậy ông vấp phải con lật đật của cô con gái, từ đó ý tưởng về sự kết hợp giữa mèo và lật đật ra đời đó chính là nhân vật Doremon.

4 sự thật thú vị về nhân vật Doraemon

Con số đặc biệt 129,3 của Doraemon: cao 129,3cm, nặng 129,3kg, nhảy cao 129,3cm (khi thấy chuột) Công suất tối đa 129.3bhp, vòng bụng 129,3cm, đường kính chân 129,3 mm, tốc độ chạy thông thường: 50m/s (khi gặp chuột:: 129,3 km/h). Như vậy, các số đo của Doraemon có một điểm chung: đều là con số 129,3. Ngoài ra, ngày sinh của chú là 3/9/2112.

Màu sơn gốc của Doraemon là màu vàng. Sau khi biết rằng tai của mình bị cắn bởi một con chuột, cậu ta đã bị trầm cảm, cậu ta lẻn lên trên tháp, uống một loại thuốc có nhãn đau buồn. Và khi cậu ta khóc, màu sơn của cậu ta đã bị thay đổi sang màu xanh do loại thuốc đó.

Doraemon 4

Doraemon có màu xanh và mất cả hai tai: Trong một lần bất cẩn, Doraemon đã bị con chuột gặm cả hai tai khiến cái đầu trở nên trở tròn vo và láng bóng. Sau đó, Doraemon cũng tạm biệt cô bạn gái Nora Miyako. Quá khứ khiến cho cậu buồn và khóc rất nhiều làm cho mình lớp sơn màu vàng chuyển thành màu xanh.

Bảo bối của Doraemon là những phát minh đi trước thời đại. Mỗi câu chuyện của Doraemon thường ngắn gọn, độc lập và mỗi bảo bối mang một cái nhìn tích cực về khoa học – kỹ thuật trong tương lai. Mỗi bảo bối của Doraemon có thể là những vật dụng hàng ngày như: cánh cửa, bàn, ghế, chong chóng tre hay những thiết bị có tính khoa học viễn tưởng như khăn trùm thời gian, đèn pin thu nhỏ, cánh cửa thần kỳ,… Vì vậy, Doraemon từng được bầu chọn là một trong số những nhân vật quyền năng nhất bên cạnh Songoku (7 viên ngọc rồng). Số bảo bối thực tế của Doraemon lên đến 1963 và được xuất hiện trong 1.344 câu chuyện. Các bảo bối được tác giả tưởng tượng ra từ những năm 1970 và đã có một số được khoa học kỹ thuật thực hiện hóa.

Nội dung truyện Doraemon

Nội dung truyện xoay quanh cậu bé Nobita, một cậu bé có cuộc đời không quá may mắn và chú mèo máy tốt bụng Doraemon đến từ tương lai để giúp cậu có cuộc sống tốt hơn. Từ đó series câu chuyện tình bạn đẹp giữa cặp đôi bắt đầu, với hàng loạt những câu chuyện dở khóc dở cười và châm ngôn cuộc sống, truyện Doraemon đã thu hút một lực lượng fan lớn, được xem là một biểu tượng mang đậm giá trị giáo dục và nhân đạo.

Sự yêu thích của độc giả đối với truyện tranh Doraemon

Ra đời cách đây đã 50 năm nhưng sức ảnh hưởng của bộ truyện này vẫn không hề giảm nhiệt, hầu hết mọi thế hệ tuổi thơ trên thế giới đều dành niềm yêu thích đặc biệt riêng cho chú mèo máy Doraemon. Bộ truyện này không ngừng được tái bản, chuyển thể thành phim hoạt hình để phục vụ nhu cầu của người xem. Ngoài ra cũng được sử dụng vào một số mục đích giáo dục nhân đạo trong nhà trường cho trẻ nhỏ. Ở Nhật Bản, Doraemon còn được sử dụng làm đồ trang trí, đồ thủ công để trang hoàng cho nhà cửa hay các cửa hàng.

Doraemon 3

Có rất nhiều lý do để độc giả trên thế giới yêu thích truyện Doraemon. Có thể thấy, truyện Doraemon mang tính giải trí, là một bộ truyện tranh sản xuất nhằm mục đích đem đến cho người xem những giây phút thư giãn và phục vụ trẻ em từ 5-15 tuổi. Bên cạnh đó, những tình tiết và nội dung trong câu chuyện mang tính nhân đạo cao. Và hơn hết là nội dung câu chuyện gần gũi. Những bảo bối mà Doraemon sử giúp cho Nobita cũng biểu tượng cho những giấc mơ dang dở của tuổi trẻ và không thể thực hiện được. Ngoài ra, một ý nghĩa lớn khác của Doraemon là truyện phần nào mang đến cảm giác hoài niệm về tuổi thơ của nhiều người, một quá khứ đã xa, ở cái thời lũ trẻ không “cắm đầu” vào điện thoại, máy tính. Chúng ra ngoài, chơi bóng chày, khoe mẽ, tranh giành nhau đồ chơi, tụ tập với nhau và cùng trải qua những chuyến phiêu lưu lớn nhỏ. Đấy có lẽ cũng là lý do chính giúp bộ truyện vẫn luôn được đón nhận sau nửa thế kỷ, và còn lâu hơn thế nữa.

Doraemon từ truyện lên phim

Từ truyện tranh, các nhân vật trong câu chuyện lại được tái hiện thông qua thể loại phim Anime. Loạt Anime Doraemon đầu tiên được sản xuất vào năm 1973 bởi Nippon TV Dōga. Tiền thân của bộ Anime này là một bộ phim thí điểm mang tên “Doraemon – chú mèo máy đến từ tương lai”. Sự ra đời của phim Anime này đã được sự hưởng ứng và ủng hộ nhiệt tình từ khán giả, khởi chiếu trên 60 quốc gia, có lượng người xem khủng. Thời điểm đó phim Anime Doraemon có nhiệt độ nóng chưa từng có, trở thành một bộ Anime nổi tiếng trên thế giới.

Doraemon 2

Sau loạt thành công bên mảng phim Doraemon, người ta tiếp tục sản xuất bộ truyện này theo dạng phim điện ảnh. Có 40 bộ phim điện ảnh Doraemon ra đời do Shin-Ei Animation sản xuất và phân phối bởi Toho kể từ năm 1980. Sau khi tác giả của bộ truyện qua đời, kịch bản bộ truyện được Kishima Nobuaki đảm nhiệm. Khác với các bộ truyện Manga hay Anime, phim điện ảnh có nội dung phức tạp hơn, chủ yếu kể về những cuộc phiêu lưu thần kỳ của Doraemon và những người bạn dựa trên những đặc điểm văn hóa phong tục tập quán của người Nhật.

Mức độ nổi tiếng của hình tượng Doraemon tại Nhật Bản

Hàng năm để tưởng niệm cố tác giả Hiroshi Fujimoto và những nhân vật trong bộ truyện huyền thoại Doraemon, người ta thường tổ chức nhiều buổi triển lãm các bức tranh và những gì liên quan đến bộ truyện.

Doraemon 6

Ngoài ra, tại “xứ Phù Tang”, du khách cũng có thể tìm về tuổi thơ của mình khi đến thăm các địa điểm du lịch gắn liền với hình tượng chú mèo máy thông minh này như: Bảo tàng Fujiko F.Fujio (nơi tưởng nhớ và tôn vinh những tác phẩm truyện tranh của tác giả nổi tiếng này, đặc biệt là nhân vật chú mèo máy Doraemon); Ngôi làng cổ Shirakawa (Ngôi làng này từng là nơi truyền cảm hứng để tác giả Fujiko Fujio sáng tác những tập đầu tiên của bộ truyện tranh),…

Doraemon 5

Hình ảnh Doraemon còn gắn liền với một đoàn tàu đặc biệt đã được đưa vào sử dụng vào năm 2011 với cái tên “Odakyu FTrain”. Đoàn tàu chạy trên tuyến Odakyu suốt từ Shinjuku thuộc Tokyo đến vùng ngoại thành thành phố Odawara thuộc quận Kanagawa. Tuyến tàu đặc biệt này được khánh thành như một hoạt động chúc mừng lễ ra mắt của bảo tàng Fujiko Fujio tại Kawasaki. Đoàn tàu Odakyu F-Train bao gồm 10 toa được thiết kế với nhiều hình ảnh lấy cảm hứng từ các nhân vật truyện tranh của tác giả Fujiko Fujio, đặc biệt là hình ảnh chú mèo máy Doraemon. Không chỉ thân tàu được trang trí mà ngay cả không gian bên trong tàu cũng tràn ngập hình ảnh, poster và các dây nắm gắn biểu tượng Doraemon. Độc đáo hơn, tiếng nhắc thông báo các trạm dừng đặc biệt cũng được chỉnh thành các bản nhạc quen thuộc trong phim Doraemon như: “Doraemon no uta”, “Yume wo kanaete Doraemon”,…

Ở Nhật Bản, hình tượng Doraemon là biểu tượng của tình thân và tình bạn, do vậy người ta cũng thường tặng nhau những món quà lưu niệm hay mô hình Doraemon (và mô hình các nhân vật khác) để bày tỏ tình bạn. Ở Nhật Bản, mô hình các nhân vật trong câu chuyện được bày bán ở rất nhiều nơi, đủ hình dạng và kích thước để du khách có thể lựa chọn. Ngày nay, người ta còn sản xuất đủ bộ chăn ga, đệm hay quần áo theo thiết kế của Doreamon nữa đấy!

Hình tượng Doraemon không chỉ đơn giản nhân vật trong truyện tranh mà giờ đây nó là một biểu tượng lớn của văn hóa “xứ Phù Tang” và là một biểu tượng cho tuổi thơ của biết bao người. Hãy tìm về lại ký ức ngọt ngào ấy khi Book Tour Nhật Bản của chúng tôi nhé!

Geisha Manryu 4

Sự nổi tiếng của nàng Geisha Manryu từng bị đuổi học vì quá đẹp 

Vào cuối thời Minh Trị, nàng Geisha Manryu đã được ca tụng là “Người phụ nữ đẹp nhất Nhật Bản”. Hình ảnh của cô một thời được in trên hàng loạt tấm bưu thiếp của “xứ hoa anh đào”.

Manryu có tên thật là Shizu Tamukai, sinh vào năm 1894 tại Tokyo. Cha của bà lâm bệnh nặng và qua đời năm bà lên 7 tuổi, sau đó mẹ cũng tái hôn và xây dựng gia đình mới. Cô bé Shizu Tamukai được Some Hiruma – chủ của ngôi nhà Geisha (có tên là Harumoto) ở Akasaka thuộc Tokyo nhận nuôi. Từ ấy, nàng đổi tên thành Shizuko Hiruma và về sau lấy nghệ danh là Manryu. Tại Harumoto, Manryu được đào tạo về nghệ thuật múa, ca hát và giải trí truyền thống. Ngày đó, một Geisha đẳng cấp nhất là đối tượng được ngưỡng mộ của rất nhiều đàn ông và mức độ nổi tiếng của họ tương đương với một ngôi sao truyền hình hay một thần tượng thời bấy giờ.

Geisha Manryu 1

Ngay từ khi còn rất nhỏ, Manryu đã được ca tụng vì nhan sắc tuyệt trần. Thậm chí có những câu chuyện cho rằng, Manryu bị đuổi học vì nàng quá xinh đẹp và luôn mặc quần áo lộng lẫy đã khiến các học sinh khác mất tập trung.

Manryu cũng được lựa chọn làm người mẫu cho các tấm bưu thiếp in hình cô gái xinh đẹp, nhờ đó, Manry đã trở thành một ngôi sao. Lúc ấy, những bức ảnh được chụp khi nàng 14 tuổi, trong đó tỏa ra nét đẹp thu hút ở giữa ranh giới của một thiếu nữ và người phụ nữ trưởng thành.

Khi những người chàng trai trẻ Nhật Bản được cử ra mặt trận để tham gia cuộc chiến tranh Nga – Nhật 1904 – 1905, họ cần điều gì đó để nhắc nhở họ luôn nhớ về quê hương và cổ vũ họ. Hoàn cảnh đó đã sinh ra những tấm bưu thiếp in hình những người phụ nữ xinh đẹp để an ủi, động viên những người đàn ông đi chiến đấu. Tuy nhiên, những tấm bưu thiếp đó cũng nhanh chóng trở nên phổ biến đối với những người bình thường và được mọi người yêu thích. Các tấm bưu thiếp đó chính là nơi Manryu xuất hiện và được biết tới rộng rãi.

Nhiều người nói, Manryu có thể được coi là người phụ nữ hiện đại nổi tiếng đầu tiên của Nhật Bản. Thời điểm đó, có những câu nói phổ biến kiểu như: “Khi nói đến rượu Sake, đó là Masamune, còn khi nói đến phụ nữ, đó là Manryu”. Có thời điểm, nàng Geisha duyên dáng thậm chí còn được bầu chọn là người phụ nữ xinh đẹp nhất Nhật Bản, điều đó mang lại danh tiếng hơn nữa cho Akasaka – quê hương của cô.

Geisha Manryu 3

Manryu đã trở nên nổi tiếng như một người mẫu xinh đẹp hoàn hảo cho các tấm bưu thiếp và cô được xếp hạng hàng đầu trong số các Geisha theo một cuộc bình chọn về độ nổi tiếng do Bungeikurabu, một tạp chí văn học thời kỳ Minh Trị thực hiện vào năm 1909.

Sự nổi tiếng của Manryu cao đến nỗi, “Manryu Monogatari” – “Những câu chuyện về Manryu” được đăng nhiều kỳ trên báo;. Hình ảnh của cô còn xuất hiện trên áp phích của cửa hàng bách hóa nổi tiếng Mitsukoshi, là gương mặt quảng cáo của nước tương Kikkoman, xà phòng KAO và du lịch bằng tàu hơi nước. Tên của cô cũng được sử dụng trong một bài hát nổi tiếng.

Vẻ đẹp của Manryu cũng được Hasegawa Shigure – nhà viết kịch, nữ tiểu thuyết gia nổi tiếng ca ngợi như một bông hoa mẫu đơn: “Dáng hình nàng năm 14-15 tuổi tựa như nụ hoa mẫu đơn hiện lên trước mắt tôi”; “Đôi mắt hai mí của nàng ẩn chứa vẻ dịu dàng, nhẹ nhàng như sao Hôm, được bao phủ bởi lớp sương mù mỏng”… (Sách “Kindai Bijinden” – Câu chuyện của những người đẹp hiện đại).

Geisha Manryu 2

Đẹp và nổi tiếng là thế nhưng người phụ nữ ấy đã trải qua “hai lần đò”. Đầu tiên, Manryu kết hôn với một sinh viên tốt nghiệp đại học Teikoku (ngày nay là đại học Tokyo) và là tiến sĩ Khoa học Chính trị Yoichiro Tsunekawa sau khi cô được anh cứu trong lúc suýt chết đuối trong trận lũ lụt tại một quán trọ ở Hakone.

Vào mùa hè năm 1910, một trận lũ lụt đã xảy đến ở khu nhà trọ Fukuzumiro, Hakone, nơi Manryu sinh sống và khiến bà suýt chết đuối. May mắn bà được Yoichiro Tsunekawa – sinh viên tốt nghiệp Đại học Teikoku, cứu thoát.

Mối duyên giữa họ tạm dừng cho đến 1 năm sau, Manryu và Tsunekawa vô tình gặp lại và phát sinh tình cảm. Tuy nhiên, mức giá để chuộc Manryu ra khỏi Okiya là quá lớn so với một sinh viên thời bấy giờ. Một lần vì quá bi quan về tương lai, Manryu cũng từng cố tự sát.

Trải qua vô vàn sóng gió, cuối cùng hai người cũng đã có thể tiến tới hôn nhân vào năm 1913. Mối tình lãng mạn của chàng sinh viên đại học và nàng Geisha đã được đăng trên báo “Tokyo Asahi Shimbun” vào ngày 27/03/1913.

Tháng 7/1914, Tsunekawa tốt nghiệp Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Luật – Đại học Hoàng gia Tokyo. Cùng năm, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết tự truyện “Đường xưa” và nhanh chóng trở nên nổi tiếng. Những tưởng cuộc sống của Manryu sẽ luôn được hạnh phúc bên người chồng tài giỏi thì chỉ 3 năm sau khi kết hôn, ngày 29/08/1916, Tsunekawa qua đời do cơn bạo bệnh và Manryu trở thành góa phụ khi còn rất trẻ.

1 năm sau đó, Manryu tái hôn cùng KTS Shinichiro Okada, người thiết kế Tòa thị chính Trung tâm Thành phố Osaka, Bảo tàng Nghệ thuật Thủ đô Tokyo, Nhà hát Kabukiza và tòa nhà Meiji Seimei Kan.

Sau khi tái hôn với Okada, Manryu đã tận tâm chăm sóc chồng và hỗ trợ công việc của văn phòng thiết kế. Ngày 04/04/1932, Shinichiro Okada qua đời, Manryu lại trở thành góa phụ.

Về sau, Manryu trở thành một bậc thầy về “Enshu-ryu”, trường phái trà đạo và nghệ thuật cắm hoa Ikebana, và được nhiều đệ tử yêu mến, kính trọng. Tháng 12/1973, bà Manryu qua đời (hưởng thọ 79 tuổi), kết thúc cuộc đời rực rỡ nhưng cũng lắm thăng trầm của nàng Geisha từng là biểu tượng cho ngành bưu thiếp Nhật Bản.

Tour Nhật Bản sẽ thật đặc biệt nếu được ngắm nhìn vẻ đẹp của Geisha tại các quán ăn truyền thống và tìm hiểu thêm về cuộc đời của những nàng Geisha nổi tiếng một thời. Hãy khám phá nét văn hóa đặc sắc này khi đến Nhật Bản nhé!

le hoi pikachu 6

Lễ hội Pikachu siêu đáng yêu chỉ có tại “xứ Phù Tang”

Từ lâu, nhân vật Pikachu màu vàng với khuôn mặt tinh nghịch trở thành hình tượng quen thuộc trong đời sống của người dân “xứ Phù Tang”. Người Nhật quý mến, tự hào về hình ảnh Pikachu không khác gì người Mỹ tự hào về hình ảnh chuột Mickey hay vịt Donald. Vì vậy mà người Nhật có hẳn một lễ hội dành cho nhân vật siêu đáng yêu này.

Lễ hội Pikachu là một trong những sự kiện mà người dân Nhật trông đợi nhất trong năm. Bởi sau Hello Kitty và Mèo máy Doraemon, Pikachu là nhân vật thứ ba được yêu thích nhất ở nước này.

le hoi pikachu 3

Tại Nhật Bản, lễ hội Pikachu được tổ chức ở nhiều thành phố khác nhau nhưng đông vui nhất vẫn là lễ hội được tổ chức ở tỉnh Yokohama.

Lễ hội này lần đầu tiên được tổ chức vào năm 2014 và sau đó đã trở thành lễ hội thường niên, một nét văn hóa truyền thống của Yokohama. Lễ hội kéo dài 1 tuần vào giữa tháng 8, trùng với kỳ nghỉ lễ dài ngày ở Nhật Bản nên thu hút rất đông khách tham gia.

le hoi pikachu 2

Khi lễ hội diễn ra, khắp đường phố, công viên và trung tâm mua sắm của quận Minato Mirai thuộc tỉnh Yokohama tràn ngập hình ảnh Pikachu. Không những thế, các nhà hàng, văn phòng làm việc, ga tàu điện ngầm tại đây cũng được trang trí lại theo đúng màu vàng của nhân vật hoạt hình này. Đồng thời, người dân bày bán cả đồ chơi, đồ lưu niệm, trang phục mang chủ đề Pikachu. Tại đây, du khách sẽ được tận hưởng trong một không gian tràn ngập sắc màu Pokemon, từ trong món ăn đến huy hiệu, sổ, bút viết, cặp sách, ốp điện thoại và nhiều nhiều thứ khác.

le hoi pikachu 1

Thời điểm lễ hội chính diễn ra, sẽ có khoảng 1.500 vũ công hóa trang thành Pikachu tham gia vào những màn trình diễn trong lễ hội. Các chú Pikachu đủ kích cỡ xếp thành từng đoàn dài, diễu hành qua các khu phố với những điệu nhảy đáng yêu trong tiếng nhạc vui nhộn. Tất cả các cuộc diễu hành đều được sáng tạo với những vũ điệu và trang phục khác nhau theo một chủ đề nhất định được thay đổi hàng ngày. Pikachu xuất hiện và biểu diễn ở nhiều khu vực của Yokohama với các hoạt động khác nhau. Đó là buổi nhảy Super Dance ở Landmark Plaza, triển lãm xe ô tô Pokemon ở Yokohama Red Brick Warehouse, Pikachu Hula Show ở Yokohama World Porters, và dịch vụ đi tàu hình Pikachu ở Minatomirai,…

le hoi pikachu 4

Bên cạnh đó, trong lễ hội cũng sẽ có rất nhiều màn biểu diễn sôi động khác như: Pikachu biểu diễn vũ đạo với đèn LED, giao lưu, múa hát cùng Pikachu…

le hoi pikachu 5a

Du khách cũng được tận hưởng một không gian tràn ngập sắc màu Pikachu, từ những món ăn đến huy hiệu, sổ, bút viết, cặp sách, ốp điện thoại và nhiều vật dụng khác.

Mỗi năm một lần, fan hâm mộ Pokemon nói chung và nhân vật Pikachu nói riêng ở mọi lứa tuổi trên toàn thế giới đều quy tụ về Lễ hội Pikachu tại Yokohama để hòa mình vào không khí sôi động và gặp gỡ nhân vật yêu thích của mình.

Nếu du khách đang có ý định du lịch Nhật Bản trong tháng 8 tới đây, thì đừng bỏ qua cơ hội tham gia lễ hội Pikachu siêu đáng yêu này nhé! Chắc chắn du khách sẽ tìm thấy cho mình những khoảnh khắc thú vị trong hành trình vi vu “xứ Phù Tang”.

12 loai hoa anh dao pho bien 13

12 loài Hoa Anh Đào được yêu thích nhất ở Nhật Bản

Hoa Anh Đào (Sakura) là một trong những “loài hoa quốc dân” của Nhật Bản và cũng là một trong những loài hoa biểu tượng cho mùa xuân được yêu thích nhất trên thế giới. Thường được gọi chung là Hoa Anh Đào nhưng thực ra có tới hơn 600 loài Hoa Anh Đào ở “xứ Phù Tang”, và mỗi loại lại có những nét đẹp hấp dẫn riêng.

Hàng năm, mùa Hoa Anh Đào lại về trên khắp mọi miền Nhật Bản. Tại thời điểm này, trên một vài miền của đất nước này, hoa chỉ đang chớm nở. Tuy vậy, ở một số miền khác, Hoa Anh Đào lại đang trong kỳ rực rỡ nhất, một số nơi những cánh hoa lại tới kỳ chực chờ chỉ để được rơi chạm vào mặt đất hay đã thực sự được “đoàn tụ” cùng mặt đất rồi.

Đây là quá trình tự nhiên của hoa mà không có yếu tố con người nào có thể tác động lên chúng. Và dĩ nhiên, không phải tất cả chúng đều có cùng thời khắc nở rộ hay người Nhật gọi đó là “Mankai” – thời kỳ rực rỡ nhất của Hoa Anh Đào bởi lẽ trên đất nước này có rất rất nhiều loại Hoa Anh Đào. Chúng ta có thể phân biệt chúng dựa vào số lượng cánh hoa, hình dáng, màu sắc cũng như thời gian hoa nở. Nếu du khách là người yêu Hoa Anh Đào nhưng lại không biết nhiều về những loại Hoa Anh Đào khác nhau, thì những thông tin dưới đây sẽ giúp ích được nhiều cho du khách đấy!

1 – Somei Yoshino

Somei Yoshino là loài Hoa Anh Đào phổ biến nhất, chúng thường được nuôi dưỡng trong các vườn ươm và được trồng rộng khắp Nhật Bản. Somei Yoshino được xem là tiêu chuẩn, quyết định thời điểm nở hoa chính thức ở Nhật Bản. Vậy nên, khi du lịch Nhật Bản và nghe nhắc tới “Hoa Anh Đào”, thì gần như đó chính là loại hoa Somei Yoshino.

12 loai hoa anh dao pho bien 1

Loài Hoa Anh Đào này là kết quả của sự kết hợp trộn lẫn giữa giống Edohigan Zakura và Oshimazakura. Cánh hoa có màu hồng nhạt, mặc dù nhìn phớt qua, đôi khi du khách sẽ lầm tưởng chúng có màu trắng. Mỗi đóa hoa khi nở rộ sẽ có 5 cánh.

Loài Hoa Anh Đào này thường bắt đầu nở từ đầu tháng 4 nhưng phải đến nửa cuối tháng 4 mới trở nên rực rỡ nhất. Một điều đặc biệt là trong thời kỳ hoa nở du khách sẽ không tìm thấy bất kì một chồi non nào xuất hiện cho đến khi những cánh hoa này rụng đi.

2 – Edohigan Zakura

Như đã đề cập ở trên, Edohigan Zakura là một trong hai loại hoa dùng để phối giống và cho ra loại Somei Yoshino. Đây là loại Hoa Anh Đào phổ biến và được tìm thấy chủ yếu tại vùng Kanto và có thể sẽ khó tìm thấy ở Okinawa hay Hokkaido.

12 loai hoa anh dao pho bien 2

Edohigan Zakura có cánh hoa nhỏ hơn so với Somei Yoshino thường nở vào cuối tháng 3, nhưng thời gian này có thể thay đổi chút ít tùy thuộc vào điều kiện thời tiết.

3 – Yama Zakura

Yama Zakura là một giống Hoa Anh Đào sinh trưởng tự nhiên, và là một trong những loài Hoa Anh Đào hoang dã phổ biến nhất. “Yama” trong tiếng Nhật nghĩa là “núi”, giống với tên gọi của nó, loài hoa này chủ yếu sinh trưởng ở khu vực núi cao. Một trong những địa điểm ngắm Hoa Anh Đào đẹp nhất chính là vùng núi Yoshino ở tỉnh Nara. Đây là nơi nổi tiếng bởi loài hoa Yama Zakura và là nơi có tới 30.000 cây Hoa Anh Đào, bao gồm cả những loại khác.

12 loai hoa anh dao pho bien 3

So với loại Somei Yoshino, cánh của Yama Zakura có kích thước nhỏ hơn một chút mặc dù số lượng cánh hoa cũng tương đương. Hoa có màu hồng nhạt và du khách cũng có thể thấy vài chiếc lá ngã đỏ tối màu xuất hiện điểm xuyết cùng lúc những cánh hoa Yama Zakura đang khoe sắc.

4 – Yae Zakura

Nếu như loại Somei Yoshino với mỗi bông có 5 cánh hoa thì Yae Zakura có tới hơn 6 cánh hoa. Yae Zakura chính là một trong những loài Hoa Anh Đào có nhiều cánh hoa nhất.

12 loai hoa anh dao pho bien 4

Loại cây này vừa được nuôi dưỡng nhân tạo, nhưng cũng có cây mọc tự nhiên. Số cánh hoa khác nhau tuỳ thuộc vào giống, có những giống 20 cánh nhưng cũng có những giống hoa có tới 100 cánh.

5 – Kanzan

12 loai hoa anh dao pho bien 5

Đây là loài hoa thuộc dòng Yae Zakura – dòng hoa Sakura nhiều cánh. Thời kỳ mãn khai của loài hoa này thường vào cuối tháng 4. Có khoảng 30-50 cánh hoa màu hồng đậm trên nền lá nâu. Thông thường, lá non sẽ bắt đầu có trước khi hoa tàn.

6 – Kawazu Zakura

Có xuất xứ từ thị trấn Kawazu thuộc tỉnh Shizuoka, vì vậy mà nó mang tên là “Kawazu Zakura”. Dù vậy, du khách vẫn có thể thấy loài hoa này ở nhiều nơi cũng như ở nhiều lễ hội hoa khắp Nhật Bản.

12 loai hoa anh dao pho bien 6

Đây là loại Hoa Anh Đào nở sớm nhất Nhật Bản. Chúng thường bắt đầu nở vào khoảng đầu tháng 2, và cũng là loài hoa có thời gian nở dài nhất, tầm 1 tháng, lâu nhất trong tất cả các loại Hoa Anh Đào. Thời gian nở rộ hơn 1 tuần giúp mọi người có thời gian dài hơn để chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp của loài hoa này. Vào thời gian này, người dân nơi đây cũng tổ chức lễ hội ngắm hoa với tên gọi “Lễ hội Hoa Anh Đào Kawazuzakura”. Lễ hội thường kéo dài từ đầu tháng 2 đến đầu tháng 3, thu hút hàng triệu du khách đến tham quan mỗi năm.

Kawazuzakura có 5 cánh, màu hồng và kích thước cánh hoa lớn hơn các loại Hoa Anh Đào khác một chút. Vào mùa nở rộ, hoa thường kèm theo những lộc non xanh biếc đang đâm chồi cho một sức sống mới.

7 – Oshima Zakura

Oshima Zakura chủ yếu sinh trưởng ở bán đảo Izu thuộc tỉnh Shizuoka. Loại Hoa Anh Đào này có màu trắng ngà. Khi những bông hoa bung nở cũng là lúc những chồi non nhú lên, đó là lý do mà du khách có thể thấy được cùng lúc màu trắng của hoa và màu xanh của những chồi lá ngay từ đằng xa.

12 loai hoa anh dao pho bien 7

Một trong những đặc điểm nổi bật của Oshima Zakura chính là hương vị của nó. Vì vậy mà loại hoa này được người Nhật dùng để chế biến thành “Sakura Mochi” – bánh màu hồng với nhân đậu đỏ được bọc bên ngoài bằng lá Anh Đào ngâm muối. Theo truyền thống, Sakura Mochi sử dụng lá của loại hoa Oshima Zakura bởi mùi thơm và hương vị đặc trưng của nó.

8 – Takato Kohigan

12 loai hoa anh dao pho bien 8

Loại Hoa Anh Đào này chỉ được tìm thấy trên công viên thuộc lâu đài Takato, tỉnh Nagano. Đây là một loại Hoa Anh Đào đặc biệt nở vào đầu tháng 4. Takao Khigan Sakura có 5 cánh mang sắc hồng phớt đỏ nhẹ nhàng.

9 – Ichiyo

12 loai hoa anh dao pho bien 9

Ichiyo là một loại Hoa Anh Đào phổ biến thường nở vào giữa tháng 4, đặc biệt ở vùng Kanto. Đây là một loại Hoa Anh Đào nở muộn với số lượng cánh nhiều hơn 5. Thông thường, có khoảng 20-30 cánh với sắc hồng phấn đáng yêu kèm theo đó là những chồi non xanh biếc. Loài hoa này trở nên thật sự lộng lẫy và ấn tượng vào thời kỳ mãn khai. Du khách có thể chiêm ngưỡng loài hoa này tại rất nhiều các công viên và vườn cây trên khắp đất nước Nhật Bản.

10 – Kanhi Zakura

Kanhi Zakura mang trong mình nét quyến rũ đặc biệt. Đây là loại Hoa Anh Đào phổ biến ở Okinawa. Ở miền Nam Nhật Bản, thời gian hoa nở bắt đầu từ giữa tháng 1 đến tháng 2 trong khi ở đảo Honshu loài hoa này thường nở vào đầu tháng 3.

12 loai hoa anh dao pho bien 10

Hình dáng của hoa như một chiếc chuông nhỏ. Thật thú vị đúng không nào? Khác với những loại Hoa Anh Đào thông thường, Kanhi Zakura có mày hồng đậm, tương tự màu hoa mơ và có 5 cánh. Để ngắm loại hoa này, du khách có thể đến núi Yaedak ở Okinawa nơi hàng ngàn cây hoa Kanhi Zakura vào mùa rực rỡ đầu tháng 2 hàng năm.

11 – Kiku Zakura

12 loai hoa anh dao pho bien 11

Mệnh danh là loài Hoa Anh Đào trăm cánh, Kiku Zakura là loài Sakura nở muộn phổ biến tại “xứ Phù Tang”. Đối với loại Hoa Anh Đào này, hoa và lá thường xuất hiện cùng lúc. Lá của Kiku Zakura lớn hơn so với tất cả các loại Hoa Anh Đào khác. Ở Tokyo, du khách có thể nhìn thấy Kiku Zakura tại các công viên, vườn Nhật. Loài hoa này thường nở vào cuối tháng tư đến đầu tháng 5.

12 – Shidare Zakura

Shidare Zakura là tên gọi chung cho các loại Anh Đào có cành rủ. Người ta thường gọi là “Sakura cành rủ” hay “cây Anh Đào khóc” (Weeping Cherry Tree). Loại cây này có cành rũ xuống đất, và trên mỗi cành là vô số những bông Hoa Anh Đào nhỏ li ti. Loài hoa rũ cành này đem lại một dáng vẻ thanh lịch và tinh tế khác biệt so với những loại hoa khác.

12 loai hoa anh dao pho bien 12

Shidare Zakura là loài hoa biểu tượng của tỉnh Kyoto và cũng là nơi mà loài hoa này sinh trưởng nhiều nhất. Ở đây tại vùng Fukushima có một cây được biết đến với tên gọi “Miharu Takizakura” đã hơn 1.000 tuổi, được công nhận là một “Thắng cảnh thiên nhiên quốc gia”, là một trong những cây thuộc loại Shidare Zakura nổi tiếng nhất ở “xứ Phù Tang”.

Trên đây là những thông tin cơ bản về 12 loại Hoa Anh Đào phổ biến nhất ở Nhật Bản. Thông qua bài viết này, chúng tôi hi vọng du khách đã có thêm một số kiến ​​thức về loài Hoa Anh Đào xinh đẹp này. Nếu khách muốn tự mình khám phá thêm những điều thú vị về “loài hoa quốc dân” này, hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Nhật Bản nhé! Chúc du khách có một hành trình với nhiều trải nghiệm hấp dẫn!