nu thien hoang Koken voi nhung chuyen tinh vuot le giao 4

Nữ Thiên hoàng Koken với những chuyện tình vượt lễ giáo

Trong lịch sử Nhật Bản, nếu như Nữ Thiên hoàng Suiko để lại “danh thơm” bao nhiêu thì Nữ Thiên hoàng Koken lại để lại nhiều tiếng xấu bấy nhiêu. Điều đáng nói là tiếng xấu của Koken chủ yếu là từ tình trường phức tạp rối rắm và lắm nỗi đa đoan của bà.

Thiên hoàng Koken (718 – 28/8/770) là Thiên hoàng thứ 46 và là Thiên hoàng Shotoku – Thiên hoàng thứ 48 theo danh sách chính thống được công nhận của Hoàng gia Nhật Bản. Bà là Nữ Thiên hoàng thứ hai lên ngôi hai lần, sau nữ Thiên hoàng Kogyoku.

Trong lịch sử Nhật Bản, Nữ Thiên hoàng Koken lên ngôi vào năm 749, là người thứ sáu trong số tám phụ nữ đảm nhận vai trò là Thiên hoàng. Năm vị Nữ Thiên Hoàng trước Koken là: Suiko, Kogyoku / Saimei, Jito, Gemmei, và Gensho; và hai người phụ nữ trị vì sau Koken / Shotoku là: Meisho, và Go-Sakuramachi.

Trước khi trở thành Thiên hoàng, bà là một công chúa với tên thật là Abe, con gái thứ hai của Thiên hoàng Shomu và Hoàng hậu Komyo (tức bà Fujiwara Komyoko). Thuở thiếu thời, bà sống trong sự nuôi dưỡng từ mẹ là người họ Fujiwara nên chịu ảnh hưởng khá nhiều.

nu thien hoang Koken voi nhung chuyen tinh vuot le giao 3

Vào ngày 19/08/749, Thiên hoàng Shomu thoái vị và Công chúa Abe lên ngôi, lấy hiệu là Koken. Và sau đó lên ngôi lần thứ hai lấy hiệu là Shotoku.

Sau khi lên ngôi, có lẽ do ảnh hưởng từ sự phóng túng của thời đại nhà Đường ở Trung Quốc nên Nữ Thiên hoàng Koken đã tự tạo cho mình một cuộc sống đời tư với vô số những cuộc tình sóng gió, vượt ra ngoài lễ giáo.

Lần thứ nhất với tên hiệu Koken, vị nữ Thiên hoàng này đã trị vị trong gần 10 năm (từ 749 đến 758). Theo luật của hoàng gia, các Nữ Thiên hoàng sau khi lên ngôi không có quyền kết hôn cũng không có quyền sinh con để tránh việc quyền lực của hoàng tộc bị truyền cho người ngoài. Vị Nữ Thiên hoàng đời thứ 44 trước đó, Gensho đã sống cả đời trong sự cô tịch khi bà phải tuân thủ những quy định ngặt nghèo này của Hoàng gia. Cho đến tận cuối đời, Gensho chưa từng một lần được kết hôn và bà đã chết trong sự cô đơn đến lạnh người.

Nhìn vào tấm gương “sáng ngời” của tổ tiên, nhưng dường như với độ tuổi 21 căng tràn sức sống, Koken nhất định không cam tâm tình nguyện “chết già” trên ngai báu Thiên hoàng. Ngay từ trước khi lên ngôi, Koken đã thầm yêu trộm nhớ người anh họ của mình là thân vương Fujiwara no Nakamaro. Vì vậy, sau khi lên ngôi, mặc cho những luật lệ của Hoàng gia, Koken và Fujiwara vẫn tìm mọi cách qua lại ngấm ngầm với nhau.

nu thien hoang Koken voi nhung chuyen tinh vuot le giao 2

Thật khó có ai có thể ngăn cản nổi vị Thiên hoàng nhiều quyền lực gặp gỡ thân mật hay bàn chuyện “quốc gia đại sự” với cận thần của mình. Vì vậy, mối tình trong bóng tối của hai người hẳn sẽ không có chuyện gì nếu như Koken không kiềm chế nổi cảm xúc yêu đương của mình, mượn cớ tu sửa Cung điện Thiên hoàng, chuyển thẳng đến nhà của Fujiwara no Nakamaro ở hơn 1 năm trời. Vậy là chuyện tình vượt lễ giáo của Nữ Thiên hoàng này vỡ lỡ.

Thêm vào đó, khi tuổi tác Koken ngày một lớn, khi tình cảm trở nên mong manh nhất, thì cũng là lúc Fujiwara no Nakamaro bắt đầu lạnh nhạt dần. Đương nhiên, Koken không thể chấp nhận được. Song, thân là Thiên hoàng, Koken phải chịu sự ràng buộc của những quy định khắt khe của hoàng thất. Thêm nữa, Fujiwara no Nakamaro lại là một thân vương quyền lực, bà không dễ gì ra tay trả thù “kẻ bạc tình” ấy được. Thành ra, vị nữ Thiên hoàng trong tâm trạng buồn tủi đã quyết định đi tu, nhưng lại tiếp tục vướng vào một cuộc tình bê bối thứ hai.

Đó là chuyện xảy ra vào năm 754, khi hòa thượng Giám Chân của Trung Quốc sang Nhật Bản để truyền đạo. Để chứng tỏ lòng hướng Phật của mình, Koken đã xin hòa thượng này cho mình được thụ giới. Rồi trong giây phút thụ giới đó, đột nhiên, vị Nữ Thiên hoàng Koken tuyên bố mình đã giác ngộ. 4 năm sau đó, Nữ Thiên hoàng Koken một lòng hướng theo Phật pháp đã nhường lại ngôi báu cho Hoàng tử Oi Shinno. Tuy nhiên, vị Thiên hoàng có tước hiệu Junnin này chỉ trị vì được 4 năm thì bị phế bỏ. Nguyên nhân vẫn là từ một cuộc tình của Koken.

Sau khi nhường ngôi cho Junnin và làm Thái Thượng hoàng, Koken một mặt “hết lòng hướng Phật”. Lúc này Thái thượng hoàng Koken đã gặp gỡ với một hòa thượng tên là Dokyo. Thế rồi sau những ngày tháng cận kề cùng lý giải Phật pháp, bà đã đem lòng si mê vị hòa thượng vừa có tướng mạo khôi ngô, vừa uyên bác những đạo lý thiền môn.

Trên thực tế, Dokyo đã vào cung từ năm 752 để truyền bá Phật pháp, tuy nhiên, mãi tới năm 761, khi Thái thượng hoàng Koken bị bệnh, với thân phận thiền sư khám bệnh cho Thái thượng hoàng, Dokyo mới bắt đầu được sủng ái. Chuyện tình vụng trộm của Thái thượng hoàn Koken với Dokyo âm thầm kéo dài được 3 năm thì vỡ lở. Tuy vậy, mối tình này không hề chấm dứt ở đây mà bước vào giai đoạn công khai.

nu thien hoang Koken voi nhung chuyen tinh vuot le giao 1a

Năm 764, Koken nghe theo lời xúi giục của Dokyo, quyết định quay trở lại chính đàn. Koken ra lệnh phế bỏ Thiên hoàng Junnin, tự mình trở lại ngôi báu, lấy hiệu là Shotoku. Lần trở lại với ngôi vị Thiên hoàng này của Koken kéo dài 6 năm (từ năm 764-770) và trong 6 năm này, dưới sự phù trợ của người tình, Nữ Thiên hoàng Shotoku đã có những tháng ngày vui vẻ khoái lạc không kém ông vua xa hoa nào trên thế giới. Được sự sủng ái của người tình Thiên hoàng, hòa thượng Dokyo cũng trở thành nhân vật quyền lực số 1 trong triều đình. Bị tình yêu làm cho mê muội, Koken bất chấp mọi dư luận trong triều, phong cho Dokyo là “Thiền sư Thái chính đại thần”, quản lý gần như tất cả mọi việc trong triều đình, tương đương chức vụ tể tướng. Lý do mà Koken đưa ra là: “Một thiên tử đã xuất gia đương nhiên phải có một đại thần giúp việc là người đã xuất gia“.

Không ít lâu sau đó, Tuy nhiên, dường như cảm thấy như vậy vẫn chưa đủ để bày tỏ sự sủng ái của mình với người tình, Thiên hoàng Koken lại phong cho Dokyo làm Quốc sư, hưởng mọi đãi ngộ tương đương với Thiên hoàng, ngồi xe phượng, mặc cẩm bào. Chưa hết, Koken còn phong chức cho tất cả những người trong dòng họ của Dokyo. Đơn cử là người em trai của Dokyo được phong tới chức Đội trưởng Nội Thụ tỉnh chuyên quản lý đội binh lính bảo vệ hoàng cung, cũng như trông coi kho binh khí của hoàng cung. Đây là một chức vụ cực kỳ quan trọng và thường chỉ được giao cho những người cực kỳ đáng tin cậy, vì nó quyết định đến sự an nguy của toàn bộ hoàng thất. Việc giao cho em trai của Dokyo chức vụ này cũng đủ cho thấy Koken tin tưởng Dokyo ra sao.

Tuy nhiên, Dokyo không biết rằng yêu một người phụ nữ quyền lực và đa tình như Shotoku là đang đùa với hổ. Vị hòa thượng lần đầu được nếm vị ngọt của quyền lực này lại còn ngây thơ tới mức âm mưu lật đổ người tình của mình để độc chiếm ngôi vị Thiên hoàng lẫn quyền lực mà ngôi báu này mang lại. Kết quả chỉ sau vài năm được ngồi ở ngôi vị quốc sư, vị hòa thượng này cũng đã bị Nữ Thiên hoàng Shotoku thải loại.

Thiên hoàng Sotoku mất vào năm 770 vì bệnh đậu mùa chấm dứt 15 năm trị vì với khá nhiều tai tiếng. Khi vị nữ Thiên hoàng này chết, bà mới 52 tuổi. Vì vậy, sẽ chẳng biết bà sẽ còn bao nhiêu tình nhân nữa nếu còn sống và tiếp tục tại vị.

Câu chuyện Nữ Thiên hoàng Koken vì đam mê sác dục sẵn sàng vứt bỏ vương quyền đã lưu dấu trong lịch sử “xứ Phu Tang” như một điển tích độc nhất vô nhị, khiến người hậu thế vẫn còn nhiều hoài nghi tranh cãi. Tuy vậy, chính những câu chuyện này lại trở thành “liều thuốc” kích thích bất cứ ai muốn tò mò về lịch sử Nhật Bản. Nếu du khách muốn tự mình khám phá nhiều điều thú vị hơn thì hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Nhật Bản nhé!

Suiko Tennou 3

Nữ thiên hoàng đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản

Trong lịch sử Nhật Bản, Suiko Tennou (推古天皇) là Thiên hoàng thứ 33 và là Nữ Thiên hoàng nữ đầu tiên trị vì trong suốt 35 năm. Bà đã tạo ra sức ảnh hưởng mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ.

Suiko Tennou sinh năm 554 tại tỉnh Yamato, nay là tỉnh Nara. Bà có tên hồi nhỏ là Ngạch Điền Bộ hoàng nữ (額田部皇女, ぬかたべのひめみこ, Nukatabe).

Bà là con gái thứ ba của Thiên hoàng Kimmei (Khâm Minh Thiên Hoàng) và mẹ là Kiêm Diên viện (堅鹽媛), con gái của đại thần Soga no Iname (蘇我稻目; Tô Ngã Đạo Mục), một người thuộc gia tộc Soga.

Trước khi trở thành Thiên hoàng, Suiko Tennou được biết đến là Công chúa Nukatabe với sắc đẹp diễm lệ với ngũ quan đoan chính, phúc hậu.

Suiko Tennou 2

Vào năm 18 tuổi, bà là Phi tần của người anh cùng cha khác mẹ – Thiên hoàng Bidatsu (Mẫn Đạt Thiên hoàng). Sau khi người vợ đầu tiên của Mẫn Đạt Thiên hoàng là Hoàng hậu Hirohime (廣姬, ひろひめ – Quảng Cơ) qua đời, Suiko Tennou trở thành Hoàng hậu kế nhiệm. Bà sinh ra được 3 hoàng tử và 5 hoàng nữ.

Thiên hoàng Bidatsu cai trị nước Nhật từ năm 572 và băng hà vào năm 585. Sau khi Thiên hoàng Bidatsu qua đời, anh trai của Suiko Tennou đã trở thành Thiên hoàng Yomei. Ông chỉ trị vì trong khoảng 2 năm ngắn ngủi thì qua đời vì bệnh. Một thời gian ngắn sau đó, cuộc tranh giành quyền lực khốc liệt đã nổ ra giữa gia tộc Soga và gia tộc Mononobe

Gia tộc Soga ủng hộ Hoàng tử Hatsusebe – anh trai của Suiko Tennou, còn gia tộc Mononobe thì đứng về phía Hoàng tử Anahobe. Sau cùng, vào năm 587, gia tộc Soga đánh bại được gia tộc Mononobe và đưa Hoàng tử Hatsusebe lên ngôi Thiên hoàng. Ông lấy biệt hiệu là Sushun. Vị Thiên hoàng Sushun không tán thành việc chú của mình là Umako và gia đình nắm giữ quá nhiều quyền hành trong triều đình. Người chú Umako lo sợ việc sẽ bị cháu Sushun sát hại, nên đã sai thủ hạ Ataikoma ám sát Thiên hoàng Sushun vào năm 592.

Sau khi Thiên hoàng Shushun qua đời, người chú Umako đã thuyết phục Suiko Tennou lên ngôi Thiên hoàng cùng người cháu khác của Umako là Thái tử Shotoku – quan nhiếp chính cùng điều hành triều đình vào năm 593. Dù là Thiên hoàng nhưng quyền lực thật sự lại nằm trong tay của người chú Umako và người cháu Shotoku. Bà chỉ là Hoàng đế trên danh nghĩa, cũng giống như anh trai mình – Thiên hoàng Sushun.

Nữ Thiên hoàng Suiko Tennou cai trị đất nước Nhật Bản từ năm 593 đến năm 628. Dù chỉ là Thiên hoàng trên danh nghĩa nhưng trong suốt quá trình cai trị, bà đã luôn cố gắng tạo ra những thay đổi tích cực cho đất nước Nhật Bản.

Suiko Tennou 1 e1626937827581

Năm 594, Thiên hoàng Suiko Tennou đã đưa ra chỉ dụ chấn hưng tôn giáo. Từ đó, đạo Phật trở thành tôn giáo chính thống tại “xứ Phù Tang”. Tiếp tục vào năm 604, Thiên hoàng Suiko Tennou tiếp tục ban bố bộ Hiến pháp gồm 17 điều. Điều số 2 trong 17 điều luật của Hiến pháp quy định rõ việc thờ cúng Phật giáo cho người dân. Ngoài ra, bà còn bảo trợ cho nhiều chùa và tu viện. Từ đó, Phật giáo có được chỗ đứng vững chắc và lan tỏa rộng rãi tại Nhật. Điều này ảnh hưởng từ việc Suiko Tennou đã ngộ giác các triết lý nhà Phật từ chính gia tộc Soga. Đặc biệt, bà cũng từng giữ chức tu sĩ trong chùa trước khi lên ngôi Thiên hoàng.

Năm 600, Thiên hoàng Suiko Tennou đã chủ trương mở rộng quan hệ ngoại giao với nhà Tùy, Trung Quốc. Những nét đẹp văn hóa và thành tựu của Trung Quốc cũng được du nhập vào Nhật Bản như lịch và hệ thống phân chia cấp bậc quan lại. Nhiều nhà sư, họa sĩ và học giả Trung Quốc cũng đi sứ sang Nhật. Dần dần, từ một Thiên hoàng chỉ trên danh nghĩa, bà lấy lại được quyền lực của mình và tăng sức ảnh hưởng đến các chính sách cai trị đất nước.

Dưới sự ảnh hưởng của Thiên hoàng Suiko Tennou, năm 603, Thái tử Shotoku – người thật sự nắm quyền nhiếp chính tại triều đình đã ban bố Sắc lệnh thành lập hệ thống phân chia tước vị và tầng lớp quan lại thành 12 bậc như Trung Quốc. Từ đây, chế độ cha truyền con nối lâu đời tại Nhật Bản chính thức bị xóa bỏ.

Suiko Tennou 4 e1626938106694

Năm 624, khi người chú Umako tỏ mong muốn được ban cho vùng đất Kazuraki no Agata vốn thuộc đất đai Hoàng gia, bà đã từ chối. Điều này càng minh chứng rõ ràng cho việc bà cố gắng thoát khỏi sự chi phối mạnh mẽ của người chú Umako để chứng minh sự độc lập của bà.

Từ mùa xuân năm 628, sức khỏe của Thiên hoàng Suiko Tennou dần yếu đi. Dưới ảnh hưởng của hiện tượng nhật thực toàn phần, bệnh của bà càng ngày càng nghiêm trọng. Trươc lúc mất, bà vẫn một lòng vì dân vì nước. Năm 599, một trận động đất lớn đã phá hủy nhiều công trình xây dựng ở khắp quê hương của bà – tỉnh Yamato (nay thuộc tỉnh Nara), vì vậy bà đã yêu cầu tang lễ của mình được tổ chức đơn giản để lập quỹ cứu trợ cho các nạn nhân trong thiên tai này.

Vào ngày 15/4/628, Thiên hoàng Suiko Tennou băng hà, được chôn cất tại Ki Trường Sơn Điền lăng, bà hưởng thọ 73 tuổi, cai trị trong 35 năm. Nhiều tài liệu cho rằng, đã có một trận mưa đá với các viên đá lớn đổ xuống trước khi lễ tang của bà được cử hành.

Nếu du khách là người yêu thích môn lịch sử và muốn đi tìm hiểu lịch sử của Nhật Bản, thì hẳn bài viết này sẽ làm thỏa mãn mong ước của du khách. Nếu du khách muốn khám phá nhiều hơn về đất nước – văn hóa – con người nơi đây thì hãy book tour Nhật Bản nhé!

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 13

18 sự thật thú vị về Hoàng gia Nhật Bản

Không ồn ào và phô trương, cũng không xuất hiện nhiều như những gia đình Hoàng gia khác trên thế giới, Hoàng gia Nhật Bản luôn giữ cho mình một sự khép kín nhất định, nếu không muốn nói là có phần bí ẩn. Vì vậy, đằng sau cánh cửa cung cấm, Hoàng gia Nhật Bản còn nhiều điều thú vị không được nhiều người biết đến.

Hoàng gia Nhật trị vì lâu nhất thế giới

Nhà Yamato của Nhật Bản là triều đại thừa tập lâu dài nhất trong lịch sử vẫn còn tồn tại. Hoàng gia Nhật Bản công nhận 125 vị Thiên hoàng chính thống kể từ Thiên hoàng đầu tiên là Jimmu (Thần Vũ) bắt đầu vào ngày 11/2/660 TCN cho đến đương kim Thiên Hoàng Naruhito (Đức Nhân).

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 2

Kéo dài 2.676 năm, nhưng nếu bỏ qua các vị Thiên Hoàng theo huyền sử thì thời gian trị vì thực sự chỉ khoảng 1.700 năm, tuy thế cũng đủ để xếp Hoàng gia Nhật Bản có thời gian trị vì lâu nhất thế giới. So sánh với Việt Nam, triều đại tồn tại lâu nhất (nếu không tính thời Hồng Bàng) thì là nhà Lý 216 năm (1009-1226) và nhà Hậu Lê 356 năm nhưng bị gián đoạn.

Hoàng gia Nhật Bản là hoàng gia duy nhất phải “nhận lương” của bề tôi

Thời kỳ chiến quốc ở Nhật Bản, các phe phái, lãnh chúa địa phương đánh giết lẫn nhau vô cùng khốc liệt. Tất cả chỉ là vì muốn tranh giành chức vị Shogun. Có một điều khá thú vị là do các Shogun là người nắm hết quyền hành, kể cả việc thu thuế và chi tiêu ngân khố nên thành ra chính Shogun mới là người chi trả các chi phí cho Hoàng gia chứ không phải ngược lại, tức là kẻ bề tôi trả lương cho quân chủ của mình. Theo số liệu từ một vài nguồn tham khảo, một năm Mạc phủ được cấp 50.000 Koku chi phí, còn Hoàng gia chỉ có 2000 Koku.

Thiên Hoàng – “Hoàng đế của Nhật Bản”

Thiên Hoàng (天皇てんのう Tenno), còn gọi là Ngự Môn (御門みかど Mikado) hay Đế (帝てい Tei) là tước hiệu của người được tôn là Hoàng đế ở Nhật Bản. Nhiều sách báo ở Việt Nam gọi là Nhật Hoàng (日皇), giới truyền thông Anh ngữ gọi người đứng đầu triều đình Nhật Bản là Emperor of Japan (nghĩa là “Hoàng đế của Nhật Bản”). Thiên Hoàng là người đứng đầu hoàng gia và là nguyên thủ quốc gia theo truyền thống của Nhật Bản.

Tổ tiên của Thiên hoàng xuất thân là thủ lĩnh bộ lạc Yamato, nên Hoàng gia Nhật Bản còn được gọi là Nhà Yamato. Theo Cổ Sự Ký và Nhật Bản Thư Kỷ, Đế quốc Nhật Bản được Thần Vũ Thiên hoàng sáng lập năm 660 TCN. Tuy nhiên, mốc này được coi là mang tính truyền thuyết hơn là thực tế, vì hiện chưa có chứng cứ khảo cổ khẳng định sự tồn tại của 28 vị Thiên Hoàng đầu tiên. Phần chính sử Nhật Bản có thể xác minh được chỉ bắt đầu với Khâm Minh Thiên hoàng (539-571), Thiên Hoàng thứ 29 theo Danh sách Thiên Hoàng truyền thống. Dù tính theo mốc nào thì Hoàng gia Nhật Bản vẫn là gia tộc quân chủ còn tồn tại lâu dài nhất trên thế giới. Trong suốt lịch sử Nhật Bản, gia tộc Thiên Hoàng chưa từng bị dòng họ khác soán ngôi (có những Thiên Hoàng bị phế truất, nhưng ngôi vị sau đó vẫn được giao cho người khác trong hoàng tộc chứ không bị dòng họ khác đoạt mất), vì vậy Thiên Hoàng hiện nay vẫn là con cháu nội tộc của dòng họ nhà Yamato từ hơn 2.000 năm trước.

Hiện tại, Thiên Hoàng là vị quân chủ duy nhất trên thế giới xưng hiệu “Hoàng đế”, hoàng gia các nước khác chỉ sử dụng danh hiệu “Quốc Vương”. Đương kim Thiên hoàng là Naruhito (徳仁; Đức Nhân), niên hiệu là Lệnh Hoà (令和; Reiwa). Ông lên ngôi vào năm 2019 sau khi cha ông, tức Thiên Hoàng Akihito (明仁天皇, Akihito Tenno) thoái vị.

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 3

Thiên Hoàng được xem là con cháu của thần linh và kiêm luôn vị trí giáo chủ của Thần đạo Nhật Bản

Thần đạo là một đạo giáo truyền thống của Nhật Bản và những người thuộc dòng dõi Hoàng gia Nhật luôn luôn theo tôn giáo này vì theo quan niệm, Thiên Hoàng chính là con cháu của vị thần quyền năng nhất trong Thần đạo – Thái Dương Thần Nữ (Thần Mặt trời) nên cũng được xem là thần linh, điều này muôn đời nay, dù xã hội có phát triển đến mức nào thì người Nhật vẫn một mực tin là sự thật. Chưa kể, Thiên Hoàng ngoài vị trí như người đứng đầu nước Nhật ra, còn kiêm luôn vị trí Giáo chủ của Thần Đạo.

Nói thêm một chút về thần đạo Nhật Bản, thì tôn giáo này có tư tưởng khác với những tôn giáo còn lại ở “xứ Phù Tang” ở chỗ không cấm hay buộc con người làm gì, mà chỉ khuyên nên hướng tới sự trong sáng và tránh điều ác.

Thực quyền của Thiên Hoàng

Từ sau Cải cách Minh Trị (1869), Nhật Bản bắt đầu theo chế độ quân chủ lập hiến (vẫn giữ nguyên vai trò của Vua như thời phong kiến những vua sẽ không còn nắm thực quyền mà quyền lực chủ yếu thuộc về quốc hội, chính phủ). Tuy nhiên, trên thực tế cho tới năm 1945, Thiên Hoàng của Nhật Bản vẫn còn quyền lực khá lớn như quyền giải tán nghị viện, tuyên chiến với nước khác, là Thống Soái tối cao của Nhật Bản.

Sau năm 1945, Thiên Hoàng không còn thực quyền mà chỉ là người đứng đầu quốc gia về danh nghĩa. Thiên Hoàng được xem như là biểu tượng của đất nước Nhật Bản và được người dân Nhật tôn kính. Ngoài ra, Thiên Hoàng còn có vai trò là Giáo chủ của Thần đạo Nhật Bản.

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 4

Theo Hiến pháp hiện nay của Nhật Bản, nhiệm vụ của Thiên Hoàng được quy định cụ thể như sau: Ban hành các tu chính án Hiến pháp, đạo luật, sắc lệnh và hiệp ước; Triệu tập Quốc hội, Giải tán Hạ nghị viện; Tuyên bố kết quả cuộc tổng tuyển cử Quốc hội; Bổ nhiệm hay bãi miễn các Bộ trưởng, các viên chức theo pháp luật hiện hành, có toàn quyền trong việc uỷ nhiệm thư với đại sứ, bộ trưởng; Thực hiện ân xá, giảm án, hoãn thi hành án, khôi phục quyền công dân; Trao huân chương; Xác định việc Quốc hội chuẩn y các hiệp định quốc tế, các văn bản ngoại giao theo pháp luật hiện hành; Tiếp đón các Bộ trưởng và Đại sứ quốc tế; Đại diện quốc gia trong các buổi lễ long trọng.

Chúng ta có thể thấy vai trò chính của Thiên Hoàng hiện nay giống như những vị đại sứ. Ông thường đi dự những lễ hội truyền thống của đất nước mình, thỉnh thoảng cũng sang nước ngoài gặp các vị lãnh thủ của quốc gia khác tuy nhiên mục đích chuyến đi chỉ là thăm hỏi, không hề có mục đích chính trị gì.

Ngoài ra, những năm gần đây mỗi năm Thiên Hoàng đều dành ra thời gian để đi thăm, động viên những doanh nghiệp đang phát triển và có những cống hiến tốt cho xã hội hoặc ông đi làm từ thiện, hỗ trợ giúp đỡ những vùng bị thiên tai.

Hirohito – Thiên hoàng trị vì lâu nhất trong lịch sử Nhật Bản

Hirohito (29/4/1901-7/1/1989) là vị Thiên Hoàng thứ 124 của Nhật Bản. Ông làm vua từ năm 1926 đến 1989, có thời gian trị vì dài hơn bất cứ một Thiên Hoàng nào khác trong lịch sử Nhật Bản, và là vị vua cuối cùng ủng hộ sự thần thánh của Thiên Hoàng. Trong cuộc đời ông đã chứng kiến không ít sự kiện quan trọng trong lịch sử nước Nhật.

Mặc dù được biết tới bên ngoài Nhật Bản với tên riêng Hirohito, các tài liệu của Nhật Bản hiện nay chỉ sử dụng tên Thiên hoàng Chiêu Hòa để nói tới ông vì Chiêu Hòa vừa là niên hiệu duy nhất trong thời gian Thiên hoàng ở ngôi, và cũng là thụy hiệu sau khi qua đời của ông. Tại Nhật Bản việc sử dụng tên riêng (Hirohito) để nói tới vị Thiên Hoàng bị cho là một hành động phạm thượng.

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 5

Thiên Hoàng Hirohito sống vào thời kỳ đặc biệt quan trọng thứ hai trong lịch sử cận đại Nhật Bản, sau cuộc Duy Tân của Thiên Hoàng Minh Trị năm xưa. Sau chiến tranh, Thiên Hoàng bắt tay vào việc tái thiết Nhật Bản trong khi đất nước bị xâm chiếm. Ngày 3/11/1946, Hiến pháp mới của Nhật được ban bố. Hiệp ước có hiệu lực vào ngày 3/5/1947, đã quy định Thiên Hoàng chỉ là “Biểu tượng của quốc gia, và cho sự hoà hợp của dân tộc”, chứ không có quyền lực chính trị. Công cuộc tái thiết đã khiến Nhật Bản trở thành một quốc gia dân chủ với mức độ đô thị hóa cao và là một trong các quốc gia đứng đầu thế giới về công nghiệp và khoa học kỹ thuật. Sự “thần kỳ” của nước Nhật thời bấy giờ đã khiến cho các nước khác thực sự ngạc nhiên và ngưỡng mộ.

Ngoài ra, ông cũng là một nhà nghiên cứu sinh học thực hiện một số công trình về sinh vật học biển. Ông qua đời năm 1989 và Hoàng thái tử Akihito lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Bình Thành.

Có nhiều Nữ hoàng nhất thế giới

Trong lịch sử thế giới, các triều đại quân chủ từ thời phong kiến cho đến tận ngày nay, thì vị trí đứng đầu giang sơn hiếm khi nào rơi vào tay của nữ giới, kể cả những quốc gia coi trọng phụ nữ như châu Âu đi chăng nữa. Và nếu trong suốt gần hơn 100 triều đại của Trung Quốc chỉ có một vị nữ hoàng duy nhất là Võ Tắc Thiên, hoặc 6 nữ hoàng của Vương quốc Anh hoặc 4 nữ Nga hoàng thì vẫn còn thua với con số 9 nữ Thiên Hoàng của Nhật Bản.

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 6

Người phụ nữ đầu tiên nắm giữ vị trí Thiên Hoàng là Thôi Cổ Thiên Hoàng, sau bà là Hoàng Cực Thiên Hoàng, Tề Minh Thiên Hoàng, Tri Thống Thiên Hoàng, Nguyên Minh Thiên Hoàng, Nguyên Chính Thiên Hoàng, Hiếu Khiêm Thiên Hoàng, Minh Chính Thiên Hoàng và Hậu Anh Đinh Thiên Hoàng.

Điều đặc biệt đáng nói ở đây, là thời phong kiến, Nhật Bản cũng như bao quốc gia Châu Á khác chịu ảnh hưởng với quan niệm “trọng nam khinh nữ” nặng nề, vì thế số lượng 9 nữ Thiên hoàng từng trị vì đất nước quả thực khiến người ta bất ngờ.

Thiên Hoàng có truyền ngôi khi đang tại vị?

Thiên Hoàng Akihito sinh năm 1933, năm nay ngài đã 85 tuổi. Trở thành nhà vua của một triều đại đã không còn nắm quyền lực trong tay là một điều không phải ai cũng muốn, và thật dễ hiểu khi Thiên Hoàng Akihito đã lên kế hoạch nhường ngôi trước khi về với Tiên hoàng.

Tháng 8/2016, truyền hình Nhật Bản đã phát sóng bài phát biểu dài khoảng 10 phút của Thiên Hoàng Akihito, trong đó ông có gợi ý là sẽ có thể nhường lại ngôi vị cho con cháu.

Văn phòng quản lý các công việc của Hoàng Cung và cơ quan quản lý cho gia đình vào lúc đó đã nói họ đang xem xét các ý kiến. Đáp lại, cơ quan cầm quyền đã thực hiện điều luật chỉ được dùng duy nhất một lần rằng sẽ cho phép Thiên Hoàng Akihito “nghỉ hưu” vào ngày 30/4/2019.

Thiên Hoàng và con cháu hoàng tộc Nhật Bản không có Họ

Có một sự thật ít ai biết rằng, người Nhật xưa kia vốn không hề có họ mà chỉ có tên. Tuy nhiên, theo chiều dài phát triển của lịch sử thì chính sự gia tăng dân số đã thúc đẩy sự hình thành các dòng họ ở Nhật Bản.

Thời gian đầu chỉ có các quan lại, quý tộc Nhật Bản mới có họ, còn người dân thì không. Và những họ ban đầu của người Nhật chỉ là địa danh, hoặc chức quan, ví dụ như Shinshou Ninagawa chỉ ra rằng tổ tiên sống ở Ninagawa và chức danh là người gác cổng (Shinshou).

Đến thời Duy Tân Minh Trị, để tiện quản lý hộ tịch, Chính phủ Nhật Bản đã đặt ra “Lệnh tên họ”, dùng biện pháp mạnh để người dân thường có họ. Chính vào lúc này người Nhật mới bắt đầu có họ phổ biến hơn, thậm chí một số người Nhật còn vội vàng mà “tự chế” lấy một cái họ kỳ quặc như “Mitarashi” (nhà vệ sinh), “Nojiri” (đuôi thú)…

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 7

Nhưng, đến tận ngày nay, vẫn có một trường hợp đặc biệt của Nhật Bản chính là Thiên Hoàng không hề có họ bởi như đã nói, người dân Nhật coi Thiên Hoàng và dòng dõi hoàng tộc là con cháu của thần linh, ai ai cũng tôn sùng và biết đến, vì thế không cần một cái họ để thể hiện phạm vi quyền lực, thế lực, cũng không cần thể hiện chức danh hay quê quán.

Chỉ có trong một thời gian đặc biệt vào thời kỳ Heian (năm 794) kéo dài đến thời kỳ Chiến Quốc thì trong hoàng tộc Nhật Bản có xuất hiện họ, đó chính là những con cháu không đủ khả năng kế vị sẽ được Thiên Hoàng ban cho họ mới để tự phát triển thành chi nhánh của Hoàng gia, và những họ này đến nay đã phát triển thành 4 gia tộc hùng mạnh tại Nhật Bản, đó là Minamoto, Taira, Fujiwara và Tachibana.

Một trường hợp khác là con gái trong Hoàng tộc của Thiên Hoàng được gả đi thì phải theo họ chồng.

Phụ nữ không được truyền ngai vàng

Trong việc thừa kế, Nhật Bản áp dụng và tuân theo Luật Salic. Điều đó có nghĩa là phụ nữ sẽ không được trở thành Thiên Hoàng. Đồng thời, nữ nhân nào trong hoàng tộc kết hôn với người bình thường cũng sẽ trở thành một người bình thường, không liên quan gì đến hoàng tộc nữa. Chẳng hạn, Công chúa Mako hiện đã đính hôn với bạn trai Kei Komuro, một người bình thường, học để trở thành một luật sư. Khi cô kết hôn với anh ta, Mako sẽ chính thức rời khỏi gia đình hoàng gia và trở thành một người bình thường.

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 8

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ. Trước thời kỳ Cách mạng Minh Trị 1889, từng có 8 công chúa thừa kế ngai vàng từ cha đẻ của mình. Họ được gọi là “Tenno”.

Phải đến sau Cách mạng Minh Trị, các quy tắc kế vị mới được thắt chặt, và Hiến pháp năm 1949 đã xác định lại những tiêu chuẩn cần có để trở thành Thiên Hoàng Nhật Bản.

Có một số lo ngại rằng số người thừa kế là nam đang giảm dần và việc loại bỏ quyền thừa kế của những công chúa kết hôn với thường dân có thể làm cho vấn đề tồi tệ hơn. Lựa chọn vì đó mà sẽ trở nên khó khăn hơn.

Áp lực mang tên “Người thừa kế”

Tư tưởng có người nối dõi tông đường gây ra áp lực vô cùng lớn đối với nhiều người, nhất là trong văn hóa Á Đông. Hoàng gia Nhật Bản cũng không phải ngoại lệ, Hoàng thái tử phi Masako hiểu rất rõ điều này.

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 1

Mặc dù Masako và Naruhito kết hôn vào năm 1993 nhưng phải đến năm 2001, cô công chúa nhỏ Aiko mới chào đời, thế nhưng họ vẫn không thể sinh ra một bé trai – người thừa kế trực tiếp của ngai vàng.

Trong 8 năm, Hoàng thái tử phi Masako vẫn hứa hẹn rằng cuối cùng sẽ có một người thừa kế. Sự chờ đợi đã bắt đầu một số tin đồn xung quanh Nhật Bản rằng gia đình Hoàng gia phải dùng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.

Tờ London Independent là tờ báo đầu tiên đập tan những tin tức này. Nhưng sau đó, vào năm 2007, một nhà báo người Úc tên là Ben Hills đã xuất bản một cuốn sách về công chúa, và ông đã cho rằng tin đồn này rất có thể là thật. Cuốn sách sau đó đã bị cấm ở Nhật Bản vì đã tạo ra những ồn ào xung quanh cuộc sống cá nhân của Hoàng thái tử phi Masako.

Phân chia tầng lớp trong hoàng tộc

Gia đình hoàng gia Nhật Bản thực tế được chia thành 2 tầng khác nhau, 6 thành viên thuộc nội đình, họ là những người được hỗ trợ bởi thuế và làm nhiệm vụ của hoàng tộc, và ngoại đình, bao gồm 13 hoàng tử và công chúa nhỏ.

Đó là nơi các anh chị em của Thiên Hoàng, cùng với các hậu duệ của họ sinh sống. Ngoại đình cũng bao gồm con trai thứ hai của Thiên Hoàng và gia đình của ông, cùng các góa phụ của các hoàng tử và con cái của họ.

Ám sát

Kể từ khi tập hợp được 961 người với nhiệm vụ chính là đảm bảo sự an toàn cho Hoàng gia, rất nhiều lần họ đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần.

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 10 e1626870011862

Thiên Hoàng Hirohito là một trường hợp như thế, ông đã sống sót sau 3 lần thử thách của cuộc đời mình. Một học sinh cấp tiến tên là Daisuke Namba đã cố gắng giết ông vào năm 1923, nhưng đã thất bại và bị xử tử vào năm 1924. Trước đó, vào năm 1923, một kẻ vô chính phủ tên là Fumiko Kaneko đã cùng với một nhà hoạt động Hàn Quốc tên là Pak Yeol cố gắng ám sát Thiên Hoàng Hirochito. Một nhà hoạt động độc lập Hàn Quốc tên là Lee Bong-chang cùng từng cố gắng hạ sát Nhật Hoàng vào năm 1932 (Nhật Bản chiếm đóng Hàn Quốc vào thời điểm đó).

Biệt đội phòng vệ tinh nhuệ bậc nhất thế giới

Là quê hương của các Ninja và Samurai, nên việc Nhật Bản đào tạo một đội quân tinh nhuệ bảo vệ hoàng thất là lẽ đương nhiên. Từ năm 1867 đến năm 1945, gia đình Hoàng gia được bảo vệ bởi một nhóm gọi là Konoe Shidan.

Về cơ bản, Thiên Hoàng sẽ tuyển mộ những người lính tốt nhất có thể tìm thấy, tập hợp họ lại thành một khu quân sự riêng, và tiến hành huấn luyện đội quân này theo những công nghệ chiến đấu mới nhất, tuyệt vời nhất. Đây được coi là một trong những hệ thống an ninh hiệu quả nhất trên thế giới, nhiệm vụ chính là bảo vệ gia đình Hoàng gia, Thiên Hoàng và khu vực sinh sống của Hoàng gia khỏi bất kỳ mối đe dọa nào.

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 11

Ở thời điểm thập niên 1870, đơn vị có 12.000 sĩ quan, được đưa vào biên chế và là một phần trong quân đội. Khi Nhật Bản thua trận trong Thế chiến II, Konoe Shidan cũng tan rã, vì Nhật không còn được phép có quân đội nữa. Tuy nhiên, họ được tái lập dưới thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Nhật Bản hai năm sau đó. Họ được gọi là Cảnh sát Hoàng gia. Có tất cả 961 nhân viên an ninh, công việc của họ là bảo vệ nơi cư trú và tài sản của Hoàng gia.

Kiểm duyệt chặt chẽ

Cơ quan Nội chính Hoàng gia Nhật Bản kiểm soát gần như tất cả các thông tin sắp ra về gia đình. Các nhà báo Nhật Bản công tác tại các tòa soạn uy tín, đều thuộc về cơ quan báo chí Nhật Bản.

Nếu họ muốn giữ bí mật, họ phải tuân theo một quy trình thường lệ để báo cáo về gia đình Hoàng gia.

Họ phải gửi bất kỳ câu hỏi nào họ có cho cơ quan này để được chấp thuận, điều đó được hiểu rằng các câu hỏi cần phải nhẹ nhàng và tôn trọng – không có câu hỏi khó cho Thiên Hoàng.

Chính sách kiểm soát chặt chẽ này thực sự tương đối mới. Từ năm 1945 đến năm 1961, báo chí trong nước khá cởi mở về vị hoàng đế của họ. Sau đó, vào những năm 1960, một người cực đoan đã viết châm biếm về các nhà cách mạng “hạ bệ” gia đình Hoàng gia. Những người cực kỳ ủng hộ chủ nghĩa dân tộc và cơ quan Nội chính Hoàng gia Nhật Bản đã phát điên lên, và sau đó, vào ngày 1/2/1961, một thiếu niên đột nhập vào các văn phòng tạp chí nơi cuốn sách được xuất bản và giết một người giúp việc. Sau đó, báo chí trở nên vô cùng thận trọng khi hỏi về gia đình Hoàng gia Nhật Bản.

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 12

Thu nhập của Hoàng gia Nhật Bản

Sau khi Thế chiến II nổ ra, hầu hết tài sản của Hoàng gia bị chính quyền Mỹ đang đóng quân tại đây sung công. Các thành viên hoàng tộc không có tài sản riêng mà phải chi tiêu theo đúng quy định. Toàn bộ các số tiền chi cho đi lại, ăn ở, may mặc… đều lấy từ ngân sách nhà nước.

Dù vậy, mức đãi ngộ dành cho các thành viên hoàng tộc vẫn rất cao. Một năm, các mức chi dành cho Hoàng gia vào khoảng 9.519.157.323 Yên. Bên trong hoàng cung có khoảng 1.000 người phục vụ và hàng trăm cảnh sát bảo vệ. Họ sở hữu những loại rượu giá trị, những món đồ cổ vài trăm năm quý hiếm,…

Không ít người thắc mắc tại sao Hoàng gia Nhật Bản lại được đãi ngộ đặc biệt như vậy. Lý do rất đơn giản: Bởi Thiên Hoàng và Hoàng gia là biểu tượng của đất nước.

Hoàng gia Nhật Bản sở hữu những bất động sản nào?

Nhật Bản có một số bất động sản nhà nước trên toàn quốc do hoàng tộc sở hữu và sử dụng. Hoàng cung ở Tokyo là địa điểm nổi tiếng nhất. Đây là nơi Thiên Hoàng và Hoàng hậu lưu trú.

nhung dieu thu vi ve hoang gia nhat ban 9 e1626869903739

Ngoài ra, còn phải kể đến: Dinh thự Akasaka; một số biệt thự nằm bên ngoài Tokyo dùng để làm nơi nghỉ mát cho các thành viên Hoàng gia (chẳng hạn như Biệt thự Nasu ở tỉnh Tochigi, được xây vào năm 1926 và mở rộng vào năm 1935; Biệt thự Hayama bên bờ vịnh Sagami ở tỉnh Kanagawa; Biệt thự Suzaki sở hữu riêng một bãi biển, nằm ở Shimoda, tỉnh Shizuoka); Hoàng cung Kyoto (với nhiều tòa nhà được xây từ năm 1855, bao gồm hội trường Shishinden, nơi đăng quang của hoàng đế Taishou và hoàng đế Showa. Bên cạnh hội trường là cung điện Omiya, được xây vào năm 1867).

Hoàng gia cũng sở hữu một trang trại trải rộng 2,5 km2 tại các thị trấn Takanezewa và Haga ở tỉnh Tochigi. Trang trại sản xuất thịt, trứng, sữa và rau để Hoàng gia và khách sử dụng.

Của hồi môn

Mỗi khi một thành viên của Hoàng gia bày tỏ mong muốn tự tổ chức một cuộc sống gia đình riêng hoặc khi một công chúa tỏ ý muốn kết hôn với một thường dân thì Hội đồng Kinh tế Hoàng gia sẽ để lại cho thành viên đó một khoản tiền nho nhỏ. Số tiền mà một thành viên nhận được sẽ phụ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh. Ví dụ như công chúa Nori có 152,5 triệu Yên trong tài khoản khi cô kết hôn với một nhân viên đô thị ở Tokyo vào năm 2005.

Hoàng gia Nhật Bản vốn là một gia đình hoàng tộc không thể hiện nhiều với phần còn lại của thế giới. Bởi thế, những điều kể trên chỉ là một phần trong số rất nhiều những sự thật ít người biết về họ. Nếu du khách muốn khám phá nhiều hơn thế nữa, đừng bỏ qua một tour Nhật Bản nhé!

kich noh 9

Kịch Noh – loại hình nghệ thuật “quốc hồn” của Nhật Bản

Noh là một trong những loại hình ca kịch truyền thống lâu đời nhất tại Nhật Bản còn được lưu giữ và trình diễn đến tận ngày nay. Cùng với Kabuki và Kyogen, kịch Noh được xem là môn nghệ thuật quốc hồn của đất nước này. 

Kịch Noh hay còn gọi là “Nogaku”, xuất phát từ âm Hán tự trong tiếng Nhật, có nghĩa là “sự khéo léo” hay “tài năng”, là một loại hình nghệ thuật kinh điển của người Nhật Bản. Noh, nói một cách đơn giản thì là một vở kịch được dựng lên bởi bài hát gọi là “Utai” và âm nhạc Hayashi được trình diễn bởi các nhân vật Hayashi và được diễn trên một sân khấu rộng.

Người ta thường dùng kịch Noh để kể về những câu chuyện về thần linh hay con người, ma quỷ với nhiều ẩn ý sâu xa.

Nguồn gốc và quá trình phát triển kịch Noh

Đến nay nguồn gốc của kịch Noh vẫn chưa được xác định chính xác. Tuy nhiên, nhiều người Nhật cho rằng loại hình kịch này được truyền bá từ Trung Quốc vào khoảng thế kỷ thứ 7, dần phát triển từ thế kỷ 14-15 và đặc biệt được ưa chuộng trong tầng lớp Samurai.

Người biểu diễn, nhà soạn kịch thiên tài Kannami (1333-1384) và con trai của ông, Zeami (1363-1443) được coi là “nhà lãnh đạo” vĩ đại của kịch Noh.

kich noh 1a

Thời kỳ thịnh hành nhất của kịch Noh là từ giai đoạn Zeami đến Edo. Tuy nhiên vào những năm 1868 đến 1912, loại hình biểu diễn này ngày rơi vào giai đoạn lụi tàn khi xuất hiện nhiều buổi biểu diễn không chuyên và chính thức.

Thời buổi hiện đại, người dân Nhật đã không còn ưa chủ thể loại kịch Noh như trước. Tuy nhiên, loại hình văn hóa nghệ thuật độc đáo này vẫn được nhiều nghệ sĩ giữ gìn và biểu diễn khắp nơi trên cả nước. Một phần vì niềm đam mê, một phần vì muốn giữ gìn cho thế hệ mai sau biết về nét văn hóa nghệ thuật cổ truyền nước nhà.

Sức hút từ kịch Noh 

Đặc trưng của kịch Noh chính là việc sử dụng các mặt nạ có tên gọi là Nomen. Quá trình làm một chiếc mặt nạ có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng. Đầu tiên, nghệ nhân và sẽ chọn và chạm khắc gỗ. Mặt nạ dùng trong biểu diễn kịch Noh thường làm từ gỗ cây bách Nhật Bản. Sau đó nghệ nhân sẽ bôi lớp giấy Washi bên ngoài để tăng khả năng bám dính mực khi vẽ. Khi hoàn tất quá trình phủ màu, nghệ nhân sẽ đánh bóng để cho ra chiếc mặt nạ Noh hoàn thành.

kich noh 2

Hiện nay, có khoảng 450 mặt nạ khác nhau và được chia làm 60 loại với tên gọi độc lập. Một số loại có thể dùng trong nhiều vở kịch khác nhau trong khi một số chỉ dùng trong các vở nhất định.

Trong kịch Noh, mặt nạ được đeo bởi nhân vật Shite. Chúng nói lên kiểu tính cách mà nhân vật đó thể hiện, đồng thời giúp che đi cảm xúc thật của bản thân. Thông thường, mặt nạ sẽ tượng trưng cho các nhân vật như: thần, quỷ và linh hồn, cũng như phụ nữ, đàn ông ở nhiều độ tuổi khác nhau và xếp hạng xã hội của họ.

kich noh 4

Trang phục kịch Noh làm từ lụa với nhiều màu sác rực rỡ, phỏng theo trang phục của thế kỷ 15. Những bộ trang phục này tùy thuộc vào típ nhân vật và những quy định bắt buộc về việc sử dụng. Trang phục trong kịch Noh vô cùng đa dạng từ chi tiết thiết kế, màu sắc, các nhân vật, giàu hay nghèo, trẻ hay già, đàn ông hay đàn bà, đều phục trang rất đẹp.Cách mặc trang phục biểu diễn Noh phức tạp nên thường cần tới 2-3 người để giúp diễn viên mặc phục trang. Một trang phục hay một mặc nạ trong Noh đều có thể sử dụng cho nhiều nhân vật khác nhau trừ một số trang phục và mặt nạ đặc biệt chỉ sử dụng cho nhân vật đặc trưng cố định.

Cốt truyện của kịch Noh thường được rút ra từ truyền thuyết, lịch sử, văn học và các sự kiện đương đại, với các thể loại: thần, các chiến binh, những người phụ nữ xinh đẹp, các nhân vật hỗn hợp (đặc biệt là những người đàn bà điên loạn) và các sinh vật siêu nhiên. Bên cạnh đó, một chương trình đầy đủ sẽ bao gồm thêm một nghi lễ trước khi bắt đầu là “Okina Sanbaso”.

kich noh 7

Có bốn loại nhân vật trong một buổi biểu diễn kịch Noh: Shite, Waki, Kyōgen Và Hayashi. Shite là nhân vật xuất hiện vào đầu màn kịch với vai trò một người bình thường và nửa màn kịch sau với thân phận hồn ma, nhóm nhân vật này luôn đeo mặt nạ khi khi biểu diễn. Nhóm nhân vật Waki có nhiệm vụ làm nền và chất vấn Shite trong buổi biểu diễn, giúp đưa câu chuyện đến cao trào. Waki không đeo mặt nạ và phải do diễn viên nam nam đóng. Nhóm thứ ba là Kyogen – nhóm này sẽ trình diễn những màn kịch nhỏ trong thời gian Shite thay đổi trang phục. Hayashi là các nhạc công chơi bốn loại nhạc cụ: sáo Nohkan, trống Okawa hay Otsuzumi, trống Kotsuzumi (trống hình đồng hồ cát), và trống cái Taiko (trống hình thùng đặt trên sàn và gõ bằng hai dùi).

Một yếu tố quan trọng trong kịch Noh là nhịp điệu. Nhịp điệu trong âm nhạc kịch Noh giống như tiếng mưa rơi từ mái hiên xuống. Trống lớn diễn tấu theo nhịp 7 âm tiết, 5 âm tiết là một phần diễn tấu của trống nhỏ, nhưng nếu diễn tấu nối tiếp nhau, thì đôi khi có thể đảo ngược vai trò.

kich noh 6 e1626861685552

Kịch Noh sẽ được biểu diễn trên một sân khấu có hệ thống sảnh theo lối kiến trúc sân khấu Kagura truyền thống được chống bởi bốn cột trụ đặt tên theo vai trò của bốn diễn viên Noh: Waki, Shite, Kyogen và Hayashi. Điểm chung của các sân khấu Noh là có một cái móc hoặc thòng lọng treo trên trần để đánh chuông báo hiệu cho vở kịch. Sàn sân khấu được đánh bóng để diễn viên thực hiện các màn trượt, ngã. Bên dưới sàn chôn các bình lớn giúp tăng độ vang khi thực hiện các động tác, biểu cảm mạnh mẽ, đồng thời giúp sàn cao hơn so với tầm nhìn của khán giả lên khoảng 3 feet. Ngoài ra, bên phải sân khấu còn có một cây cầu hẹp để những diễn viên chính bước lên sân khấu. Sàn kịch Noh chỉ được trang trí độc nhất một bức tranh cây thông ở cuối sân khấu. Cây thông là hình ảnh đại diện cho cây thông thật ở đền Kasuga, Nara – nơi các tiền nhân đặt nền móng xây dựng nền nghệ thuật kịch Noh tại Nhật Bản.

Không gian và thời gian trong Noh có phong cách miêu tả tự do, cho phép khán giả thỏa sức tưởng tượng của mình. Ví dụ khi mô tả nhân vật đi một đoạn đường dài, diễn viên sẽ bước đi vài bước nhỏ kết hợp với dàn hợp xướng hay hai nhân vật có thể xuất hiện trên sân khấu gần như sát bên nhau, nhưng khán giả phải hiểu là họ vẫn chưa nhìn thấy nhau.

Vẻ đẹp không cần lời nói

Do tương đồng với quan niệm của thiền nên kịch Noh không quá lộng lẫy, phô trương, cũng không quá dân dã mà giản dị, sâu lắng và mang đậm tính u huyền, bao gồm 3 nguyên tắc là: Myoka (vẻ đẹp mỹ miều như một bông hoa), Hie (vẻ đẹp cô quạnh, lạnh lẽo) và Mumon (vẻ đẹp nội tâm mà không cần cất thành lời). Hoa còn được hiểu như là quá trình, là sự công phu luyện tập của người diễn viên. Hoa nhất thời có thể chỉ các diễn viên thiếu niên có vẻ đẹp trong sáng, giọng ca trong trẻo nhưng sẽ tàn đi theo thời gian. Hoa thật sự là sẽ nảy nở trong suốt cả sự nghiệp khổ công luyện tập của người nghệ sĩ.

kich noh 5 e1626861596510

Noh là bộ môn kịch nghệ nên những gì chuyển tải tới người xem đều thông qua những cử chỉ mang tính ước lệ, những cử chỉ không qua phô trương mạnh mẽ mà chậm rãi uyển chuyển, thu nhiều động tác vào một động tác. Hay nói cách khác, nghệ thuật Noh chú trọng gợi hơn tả, kích thích trí tưởng tượng của khán giả. Ví dụ, khi có tiếng dế rúc lên trong bụi cây, người diễn viên không được có hành động lộ liễu chứng tỏ mình đang nghe như đưa hai tai lên nghe ngóng. Anh ta phải hạ thấp ánh mắt về phía đó và nhẹ nhàng nghiêng đầu về một bên tóat lên một cử chỉ như thề “nhìn thấy một âm thanh”.

Do tính ước lệ cao của kịch nghệ, để khán giả không bị phân tâm, người diễn viên thường đeo những chiếc mặt nạ Noh phù hợp với từng vai diễn của mình nhằm che dấu những cảm xúc của bản thân.

kich noh 8

Bên cạnh đa số vai diễn sử dụng mặt nạ, có một số vai diễn không sử dụng mặt nạ như vai thị đồng (dành cho diễn viên trẻ, ít kinh nghiệm) và Hitamen (diễn viên lão thành). Với loại vai Hitamen, diễn viên phải dồn nén cảm xúc để diễn bằng khuôn mặt thật, không hóa trang với nét mặt lạnh lùng, mắt nhìn vào cõi hư không trong suốt buổi diễn. Chỉ có những nghệ sĩ bậc thầy, dày dạn kinh nghiệm mới có thể biến chính khuôn mặt mình thành mặt nạ Ko omote. Khi khuôn mặt – mặt nạ trở thành tấm gương thu nhỏ và phóng đại cảm xúc cũng chính lúc người nghệ sĩ đã lột tả được hết vẻ đẹp của kịch Noh và đạt tới đỉnh cao nghệ thuật biểu diễn này.

Kịch Noh luôn là một phần trong văn hóa nghệ thuật của “xứ Phù Tang”. Bởi vậy, hành trình du lịch Nhật Bản của du khách sẽ thật sự trọn vẹn nếu dành thời gian “thưởng thức” buổi biểu diễn kịch Noh. Đây hẳn sẽ là một trải nghiệm thú vị mà du khách không bao giờ quên được.

Gion Matsuri 4

Trải nghiệm tuyệt vời với lễ hội Gion ở Nhật Bản

Nhật Bản được biết đến là một quốc gia với nhiều lễ hội mang đậm nét văn hóa truyền thống dân gian. Trong đó, Gion-Matsuri là một trong những lễ hội lớn nhất của “xứ Phù Tang” được diễn ra vào thời điểm tháng 7. Đây là một trong những điểm nhấn đặc trưng vào mùa hè ở Kyoto thu hút đông đảo khách du lịch.

Lễ hội Gion (Gion-Matsuri) được tổ chức tại đền Yasaka ở Kyoto là một trong ba đại lễ hội kiệu rước của “xứ Phù Tang”. Hàng năm, lễ hội này được diễn ra từ ngày 01/07 đến 31/07, kéo dài suốt một tháng với rất nhiều hoạt động sôi nổi, thu hút rất nhiều du khách tham quan, đóng góp rất lớn cho nền kinh tế du lịch ở Kyoto.

Gion Matsuri 3

Lễ hội này đã có lịch sử hình thành 1.000 năm. Nó ra đời bắt nguồn từ việc cầu nguyện thần linh phù hộ tránh khỏi thiên tai dịch bệnh. Thực tế thì vào năm 869, một dịch bệnh đáng sợ đã lan tràn trên khắp Nhật Bản cướp đi tính mạng của vô số người. Đứng trước sự yêu cầu của người dân, hoàng đế Seiwa đã quyết định cầu khẩn thần linh dập tắt dịch bệnh. Hoàng đế đã cho làm 66 cỗ xe cực kỳ tinh xảo và xa hoa tượng trưng cho 66 tỉnh thành thời bấy giờ và tới đền thờ Yasaka ở Kyoto để gửi lời cầu nguyện đến với các vị thần. Sau khi hoàng đế Seiwa tiến hành cầu khẩn thần linh, dịch bệnh dần bị đẩy lùi. Từ đó, người dân ở Kyoto thường xuyên tổ chức lễ hội rước kiệu từ đền Yasaka cầu chúc cho Nhật Bản tránh khỏi thiên tai dịch bệnh.

Từ sau năm 869, lễ hội Gion cũng được tổ chức nhưng không phải năm nào cũng diễn ra. Tới năm 970, lễ hội Gion đã trở thành lễ hội thường niên ở Kyoto. Thế nhưng, vào thời nội chiến Onin (1467-1477), lễ hội từng bị tạm ngưng những 33 năm và được đưa trở lại từ năm 1500. Sau thời gian này, hàng năm lễ hội Gion đều được tổ chức và quy mô ngày một lớn hơn. Với ý nghĩa và giá trị truyền thống lâu đời của lễ hội Gion, UNESCO đã công nhận lễ hội Gion là “Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới”.

Gion Matsuri 2

Một trong những nét văn hóa đặc sắc nhất của lễ hội Gion là hoạt động lễ diễu hành Yamaboko Yunko được tổ chức vào ngày 17/07. Trong lễ diễu hành có sự xuất hiện của 33 chiếc kiệu độc đáo (trong đó có 23 kiệu Yama, 9 kiệu Hoko và 1 kiệu Yamaboko). Với cách lắp ráp, trang trí bằng nhiều món đồ thủ công tinh xảo cùng nhiều đồ vật mang đậm nét văn hóa truyền thống của Nhật Bản, chiếc kiệu như một tác phẩm văn hóa đặc sắc được người dân bảo vệ và lưu giữ đến ngày nay.

Hoko là loại kiệu hai tầng, trọng lượng khoảng từ 7-9 tấn (có khi lên đến 12 tấn), chiều cao lên đến 25m, kiệu có 4 bánh xe, đường kính khoảng 1,9m. Để di chuyển kiệu khổng lồ này, người ta cần đến 40-50 người kéo kiệu gọi là “Hikiko”, 4 người ngồi trên mái của kiệu để kiểm soát di chuyển gọi là “Yanekata”, 2 người đứng trước hô khẩu hiệu gọi là “Ondori”, ngoài ra tầng hai còn có đến 35-40 người đứng trên kiệu chơi nhạc cụ để lễ hội thêm phần khí thế. Kiệu Yama thì nhỏ hơn với trọng lượng thường dưới 1 tấn được khoảng hơn 14-24 người đỡ trên vai khiêng đi. Trên kiệu Yama được trang trí búp bê, dù giấy, cây trừ tà…

Gion Matsuri 5

Yamaboko là loại kiệu lớn nhất với chiều cao lên đến 25m và nặng tới 12 tấn. Vào tâm điểm của lễ hội là ngày 17 và ngày 24/07, cũng chính là ngày kiệu Yamaboko được rước đi khắp các con đường. Vì chiều cao của kiệu quá lớn nên tỉnh Kyoto đã phải rất khó khăn để “dọn đường” cho kiệu đi qua. Một số nơi thậm chí còn thiết kế lại các công trình công cộng có khả năng thu gọn lại chỉ để phục vụ cho Yamaboko đi qua vào lễ hội hàng năm. 33 cỗ kiệu này sau lễ hội sẽ được dỡ ra chứ không để nguyên và năm sau vào mùa lễ hội chúng lại được ghép lại thành những cỗ kiệu hoàn chỉnh.

Gion Matsuri 1

Ngoài lễ diễu hành Yamaboko Yunko, lễ hội Gion còn có rất nhiều hoạt động chuẩn bị, vui chơi, hội họp rất phong phú như: Omukae-Chochin (nghi lễ đám rước được tổ chức để chào đón các Mikoshi – đền thờ di động), Mikoshi-Arai (nghi thức thanh tẩy Mikoshi), Lễ dựng kiệu Hoko và Yama, Gion Bayashi (các buổi lễ thử kéo kiệu Hoko và Yama), Lễ viếng thăm điện thờ của những đứa trẻ chigo (trẻ em làm nhiệm vụ giúp đỡ các nhà sư trong việc cử hành các nghi lễ, ca hát) của Ayagasaboko, các cuộc diễu hành đèn lồng,… Trong đó, nổi bật là 3 đêm trước lễ diễu hành (Yoiyama), gồm: ngày 14 – Yoiyoiyoiyama, ngày 15 – Yoiyoiyama và ngày 16 – Yoiyama. Bên cạnh đó, các buổi biểu diễn kịch Kyogen, nghi thức cắt dây, múa trừ tà Iwami Kagura, triển lãm các bảo vật gia truyền của người dân địa phương cũng được tổ chức.

Gion Matsuri 6

Trong thời gian lễ hội, ngoài chiêm ngưỡng các hoạt động phong phú trong lễ hội và đi theo đoàn rước kiệu thì thưởng thức các món ăn trong lễ hội cũng là một trong những điều rất hấp dẫn. Trong tháng lễ hội Gion diễn ra, khu vực thương mại của Kyoto sẽ trở thành khu vực dành cho người đi bộ chuyên bán đồ ăn. Đến khu trung tâm thương mại vào thời gian này, du khách có thể tìm thấy đa số các món ăn đặc trưng và ngon nhất của Nhật Bản như gà xiên nướng Yakitori, bánh cá nướng Taiyaki, bạch tuộc viên Takoyaki, bánh xèo Okonomiyaki,…

Đối với mỗi người dân Nhật, ý nghĩa lễ hội Gion rất to lớn, vừa phản ánh một nền văn hoá lâu đời, vừa là dịp để nhắc nhở con cháu về một nền văn hoá thiêng liêng thông qua tạo dựng không gian thiêng liêng bằng những nghi lễ có từ thời xa xưa, bao gồm kiệu rước, diễu hành,… Thông qua lễ hội mà thể hiện sức mạnh cộng đồng, địa phương và rộng hơn là sự gắn kết của cả một dân tộc. Họ thờ chung một vị thần, có chung một mục tiêu là hướng đến sự ấm no hạnh phúc.

Không chỉ đối với người dân trong nước mà lễ hội còn là một nét đẹp riêng cho thành phố Kyoto xinh đẹp luôn và khiến nó trở thành một điểm hẹn văn hóa với bạn bè quốc tế, điểm đến lý tưởng đối với các du khách trong mọi độ tuổi. Đặc biệt vào dịp lễ hội, đó là nơi giao lưu tiếp xúc văn hóa với các quốc gia dân tộc khác, là dịp giới thiệu quảng bá văn hóa đến bạn bè thế giới.

Nếu có cơ hội du lịch Nhật Bản vào dịp này, đừng quên ghé thăm Kyoto, hẳn du khách sẽ có những trải nghiệm tuyệt vời với lễ hội Gion đấy!

toc nguoi Ainu 11

Người Ainu – dân tộc thiểu số thầm lặng ở “xứ Phù Tang”

Khi nói đến những điều bí ẩn của hành tinh này, trong vô thức ai cũng hướng về đất nước Brazil với cánh rừng Amazon kỳ vĩ, với hơn 400 bộ lạc đang sinh sống và phần lớn trong số đó đã không giao tiếp với thế giới bên ngoài trong suốt hơn 5 thế kỷ qua. Nhưng bộ lạc bí ẩn nhất thế giới hiện nay lại chẳng thuộc về Amazon, mà là một bộ tộc tới từ Nhật Bản, đó là tộc người Ainu.

Ở Nhật Bản, bên cạnh dân tộc Yamato (hay còn gọi là người Nhật bản địa) là dân tộc chính của đất nước, còn có 2 dân tộc thuộc nhóm thiểu số là người Ryukyu và người Ainu. Nếu người Yamato sinh sống ở hầu hết các khu vực tại Nhật Bản với số dân lên đến hơn 120.000.000 người, thì người dân tộc thiểu số Ainu phân bố rải rác ở khu vực Hokkaido, quần đảo Kuril và đảo Sakhalin với dân số được ghi nhận chỉ ở khoảng 25.000 người. So với tỉnh Tottori – địa phương có dân số thấp nhất tại Nhật Bản với khoảng 600.000 người – số lượng người Ainu thấp hơn đến 24 lần. Vì vậy, mặc dù cả Ryukyu và Ainu đều là 2 dân tộc thuộc nhóm thiểu số, nhưng so với người Ryukyu vốn sinh sống tập trung ở đảo Okinawa với dân số trên 1.000.000 người, thì người Ainu với dân số ít ỏi và khu vực sinh sống tản mác đã chính thức được xem là “dân tộc thiểu số” của Nhật Bản.

toc nguoi Ainu 2 e1626692786415

Nguồn gốc chính xác của dân tộc Ainu đến nay vẫn được xem là một bí ẩn lớn. Trong lịch sử Nhật Bản, khoảng thời gian từ năm 10.000 đến năm 400 (TCN) được gọi là thời kỳ Jomon. Đây là thời kỳ được xem là nền văn hóa lớn đầu tiên của Nhật Bản. Nhiều học giả tin rằng người Jomon chính là người Ainu, hoặc ít nhất người Ainu có nguồn gốc từ người Jomon. Theo nghiên cứu cho thấy, người Jomon và người Ainu có cấu trúc hộp sọ và khuôn mặt tương tự nhau. Các mẫu DNA được lấy từ các mẫu xương cổ xưa cũng chỉ ra rằng người Jomon có nhiều điểm tương đồng về mặt di truyền với người Ainu, tuy nhiên lại rất khác với người Nhật hiện đại.

Cũng như gốc gác của tộc người Ainu, ngôn ngữ Ainu cũng hiện là một ẩn số. Hiện ngôn ngữ Ainu đang đứng trên bờ tuyệt chủng vì số lượng người nói tiếng Ainu chỉ còn khoảng 15 người và tất cả đều trên độ tuổi 60.  Trong 3 thổ ngữ Ainu: Hokkaido, Sakhalin, và Kuril thì chỉ còn Hokkaido là còn tồn tại đến ngày nay. Điều đặc biệt chính là Ainu không có bảng chữ cái riêng và phải vay mượn bảng chữ cái Kana của Nhật. Và việc thiếu ngôn ngữ viết cũng là một trong những lý do làm ngôn ngữ Ainu tàn lụi sau khi có lệnh cấm vào những năm 1899. Hiện tiếng Ainu thường được dùng trong nghệ thuật kể chuyện hay còn gọi là Yukar (một trong những cách giao tiếp cổ của người Ainu).

Người Ainu có màu da sáng, cơ thể có nhiều lông, đôi mắt tròn và sâu, tóc hơi quăn kiểu lượn sóng. Không giống như người Nhật hiện tại, đàn ông Ainu có râu dày, dáng người cao to. Do đó mà cũng có nhiều giả thuyết cho rằng, người Ainu có nguồn gốc từ phương Tây.

toc nguoi Ainu 1

Những người phụ nữ Ainu thời xưa có hình xăm trên môi, trông như nụ cười của những chú hề. Mục đích của hình xăm này mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Có tài liệu cho rằng hình xăm này sẽ giúp những người phụ nữ chưa có gia đình trở nên thu hút hơn, đồng thời đây cũng là một biểu hiện của đức hạnh. Bên cạnh đó, một số tài liệu khác lại cho rằng, hình xăm này mang ý nghĩa là “nụ cười trên môi” với hàm ý ở những nơi lạnh lẽo như Hokkaido, việc nở một nụ cười là rất khó khăn nên hình xăm sẽ giúp người phụ nữ trông như luôn nở nụ cười. Để tạo ra những hình xăm này, người Ainu rạch từng phần nhỏ trên môi theo hình bán nguyệt bằng một con dao hành lễ, sau đó sẽ dùng than từ cây bạch dương để nhuộm màu cho vết xăm và cuối cùng là rửa lại bằng nước tro. Vết rạch đầu tiên sẽ được thực hiện khi những bé gái khoảng 6-7 tuổi. Các vết cắt này sẽ được rạch thêm mỗi năm cho đến khi đứa trẻ lớn lên và kết hôn. Chú rể chính là người thực hiện những vết rạch cuối cùng để biến hình xăm thành nụ cười. Mặc dù tập tục này đã bị Chính phủ Nhật Bản cấm vào khoảng đầu thế kỷ 19 nhưng nó vẫn tồn tại cho đến thế kỷ 20.

toc nguoi Ainu 4

Trang phục truyền thống của người Ainu là loại áo choàng gọi là “Attsushi” (hay Attush), có chất liệu chủ yếu được dệt từ sợi cây và trang trí với nhiều họa tiết hình học. Những hoạ tiết hình học này không chỉ dùng để phân biệt giới tính, tình trạng hôn nhân, bộ tộc,… mà còn giúp người mặc xua đuổi tà ma. Attsushi có dáng áo tương tự với bộ Kimono của Nhật Bản, với những hoa văn truyền thống của người Ainu được thêu trên những đường viền xanh thẫm. Người Ainu mặc một loại quần bó bên trong chiếc áo choàng này. Các công đoạn tạo ra bộ y phục Attushi, từ xe chỉ, dệt cho đến thêu được thực hiện hoàn toàn bằng phương pháp thủ công bởi bàn tay tài hoa của người phụ nữ Ainu. Một chiếc áo tốt có thể mất đến 1 năm để thực hiện. Ngoài áo choàng Attushi, nam giới người Ainu còn đội một loại phụ kiện trông giống chiếc vương miện gọi là Sapanse trong những dịp trọng đại. Trong khi đó, phụ nữ Ainu sẽ đeo một chiếc băng đô bằng vải có thêu họa tiết gọi là “Matanpushi” và thỉnh thoảng, họ cũng sẽ diện thêm cả hoa tai và vòng cổ.

toc nguoi Ainu 6

Về đời sống sinh hoạt, dân tộc Ainu thường dựng nhà dọc bờ sông hoặc bờ biển, nơi gần nguồn nước và giữ an toàn khỏi nguy hiểm ngoài tự nhiên.

Một điểm rất đặc biệt mà người dân Ainu khác với người Nhật bản địa đó là họ không ăn đồ sống. Với nền văn hóa săn bắn và hái lượm của mình, họ chỉ sử dụng những thực phẩm thu hoạch được từ việc săn bắt, hái lượm và sẽ nấu chín trước khi ăn. Theo dòng thời gian, một số bộ phận người Ainu đã chuyển sang hình thức sinh sống bằng nông nghiệp, đây cũng là một trong những phương pháp nhằm thu hoạch hoa màu và không phải bỏ hoang đất.

toc nguoi Ainu 10

Vào thời xưa, người Ainu thường đánh bắt cá hồi, săn gấu, thu hoạch gỗ và các loại hoa quả để cung cấp cho đời sống sinh hoạt hằng ngày. Theo truyền thống, vai trò của người đàn ông là đánh bắt cá hồi bằng lưới, săn gấu và hươu bằng cung, mũi tên hoặc giáo. Trong khi đó, phụ nữ sẽ thu nhặt các loại thực vật. Đầu mũi tên và mũi giáo thường được tẩm độc của cá đuối gai độc để đảm bảo rằng những con vật bị thương không thể chạy đi quá xa. Thực phẩm truyền thống của người Ainu chủ yếu là cá hồi, hươu Ezoshika, thực vật hoang dã và cỏ.

Đối với người Ainu, nghề thủ công dường như là hoạt động sản xuất chính. Người đàn ông làm mộc như chạm khắc gỗ, còn người phụ nữ thì tạo ra các sản phẩm dệt, may thủ công. Ngày nay, khi đi đến các ngôi làng của người Ainu, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những sản phẩm thủ công mang đầy tính nghệ thuật truyền thống này.

toc nguoi Ainu 3

Người Ainu tin vào thuyết vạn vật hữu linh, nghĩa là mọi vật trên thế gian này đều có linh hồn. Vì vậy, người Ainu tôn trọng tất cả mọi vật, từ các loài động vật, thực vật cho đến các vật thể vô tri như sông, núi,… Đối với người Ainu, gấu là linh vật của dân tộc. Bởi lẽ, họ cho rằng, gấu chính là hiện thân của Thần Núi. Họ nuôi gấu như một thành viên trong gia đình, cho gấu ăn món người ăn và gấu sẽ sống ở trong một cũi gỗ lớn. Khi gấu được 2 hoặc 3 tuổi, gấu sẽ được hiến tế trong nghi lễ “Iyomante”. Nghi lễ Iyomante thường diễn ra vào mùa xuân vì đây là thời điểm mà lông gấu dày nhất và thịt gấu béo nhất. Gấu được hiến tế bắt buộc phải là gấu đực. Trong quan niệm của người Ainu, việc hiến tế gấu chính là giúp gấu thoát xác để sớm trở về với thế giới của các vị thần. Trong buổi lễ, người Ainu sẽ mặc những bộ trang phục đẹp nhất để tham gia vào một bữa tiệc linh đình với rất nhiều đồ uống, sau đó sẽ cùng nhau nhảy múa.

toc nguoi Ainu 5

Trong lịch sử, người Ainu đã từng phải chịu sự phân biệt đối xử về kinh tế và xã hội trên khắp Nhật Bản. Chính phủ Nhật Bản cũng như phần lớn người dân đều xem họ là một tộc người bẩn thỉu, lạc hậu và nguyên thủy. Chính do vấn đề phân biệt chủng tộc này đã dẫn tới việc những người có nguồn gốc Ainu phải che giấu thân phận của mình, đồng thời có xu hướng kết hôn với người Nhật bản địa nhằm giảm bớt sự phân biệt đối xử cho con cháu của họ. Kết quả là hiện nay có rất nhiều người Ainu không còn phân biệt rõ với người Nhật Bản.

Và gần đây, người Ainu đã được tôn trọng nhiều hơn. Vào tháng 4/2019, Chính phủ chính thức công nhận Ainu là một dân tộc bản xứ của đất nước, đồng thời khuyến khích mọi người chấm dứt phân biệt đối xử với họ. Điều này đã dẫn đến sự đánh giá tích cực hơn về văn hóa của người Ainu, khôi phục lòng kiêu hãnh của họ về ngôn ngữ và di sản dân tộc.

toc nguoi Ainu 7

Nằm cách trung tâm thành phố Sapporo, thủ phủ của Hokkaido khoảng 40 phút đi xe ô tô, “Sapporo Pirka Kotan” (Trung tâm quảng bá văn hóa Ainu) được khai trương vào năm 2003 nhằm giới thiệu đến người dân và khách du lịch nước ngoài về văn hóa Ainu và truyền bá thông điệp của họ ra thế giới. Tại đây, du khách có thể ghé các bảo tàng, nơi bảo quản, trưng bày đồ tạo tác, quần áo và vật dụng truyền thống. Trung tâm cũng là nơi tổ chức hội thảo về nghề thêu, chế tác nhạc cụ, biểu diễn múa và âm nhạc truyền thống Ainu. Du khách có thể tham gia các hội thảo về nghệ thuật thêu Ainu hoặc học cách làm nhạc cụ Ainu truyền thống Mukkuri (một cây đàn hạc bằng tre). Bằng cách tổ chức các sự kiện, các thành viên của cộng đồng có thể giúp cho thế giới hiểu rõ hơn về lịch sử và thân phận của họ.

toc nguoi Ainu 8

Niềm tự hào của người Ainu có thể được nhìn thấy tại các sự kiện như: lễ hội Marimo tại hồ Akan và lễ hội Shakushain ở Shizunai. Ngoài ra, còn có một nhóm gồm 40 thành viên thuộc Dự án nghệ thuật Ainu, chia sẻ văn hóa thông qua ban nhạc hợp nhất rock – Ainu và quảng bá nghệ thuật thủ công. Các nhà hàng như Kerapirka ở Sapporo phục vụ thức ăn Ainu truyền thống và hoạt động như một trung tâm của cộng đồng địa phương.

Bước tiến mới nhất cho cộng đồng này là Symbolic Space for Ethnic Harmony (Không gian tượng trưng cho sự hòa hợp dân tộc) ở Shiraoi, Hokkaido, một khu phức hợp mới hiện đang được Chính phủ xây dựng để giới thiệu văn hóa Ainu. Được hình thành từ một Bảo tàng Quốc gia Ainu, Công viên Quốc gia về Hòa hợp Dân tộc và một cơ sở tưởng niệm, cơ sở này đã được lên kế hoạch khai trương vào tháng 4/2020 nhân Thế vận hội, nhưng đã bị trì hoãn do dịch bệnh Covid-19.

toc nguoi Ainu 9

Những người Ainu còn sót lại cũng đang cố gắng khôi phục nét đặc trưng văn hóa của mình. Họ thậm chí còn có cả cờ riêng: Một lá cờ có nền xanh lam tượng trưng cho bầu trời và nước biển; một cánh cung màu trắng tượng trưng cho tuyết; và mũi tên có màu đỏ, tượng trưng cho loại độc thường được người Ainu sử dụng để tấn công kẻ thù (hiện tại đã bị Chính phủ Nhật Bản nghiêm cấm sử dụng nó).

Còn rất nhiều điều thú vị về tộc người Ainu mà với giới hạn ở bài viết này không thể trình bày hết được. Du khách hãy đặt cho mình một tour Nhật Bản để tự mình khám phá nhiều hơn nhé! Chúc các du khách có một chuyến đi với nhiều trải nghiệm thú vị!

ninja 11a

Ninja, họ là ai trong lịch sử Nhật Bản?

Nhật Bản là một đất nước có một bề dày văn hóa truyền thống thú vị và bí ẩn để khám phá. Một trong những bí ẩn đó chính là Ninja. Họ là các điệp viên với hành tung khó đoán từng là nỗi khinh ghét nhưng cũng là ác mộng của Samurai.

Ninja là nhân vật văn hóa đặc sắc mà bất cứ ai quan tâm đến Nhật Bản đều biết, thường được mọi người nhớ đến với hình ảnh người mặc đồ đen với một thanh kiếm sắc nét và ném các phi tiêu hình ngôi sao. Hình ảnh Ninja Nhật đã được đưa vào hàng loạt phương tiện truyền thông giải trí từ các trò chơi điện tử, phim ảnh, truyện tranh đến tiểu thuyết khắp thế giới. Thậm chí người ta còn nói đùa rằng: Ngay cả Batman cũng là một Ninja! Sự bí ẩn của Ninja khiến một số học giả tin rằng họ không bao giờ thực sự tồn tại. Nhưng có thể họ đã sai và sự thật đằng sau bí mật Ninja Nhật Bản có rất nhiều điều thú vị.

ninja 10 e1626616247959

Tên gọi ban đầu của Ninja

Thuật ngữ Ninja bắt đầu xuất hiện từ sau thế kỷ 20. Do tính chất bí mật của các môn phái tổ chức đánh thuê nên không có ghi chép cụ thể về nguồn gốc của “Ninja”. Danh xưng được dùng để mô tả những chiến binh sẽ tùy thuộc vào đặc thù và ngôn ngữ ở mỗi địa phương.​​ Ninja còn được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như: Ukagami, Dakkou, Kusa, Nokisaru, Kamari, Kanshi, Ninjutsu Tsukai,… Trong đó, Shinobi No Mono hay Shinobi là từ được dùng nhiều nhất. Thuật ngữ này xuất hiện sớm nhất, từ thế kỷ thứ 8 trong bài thơ của tác giả Manyoshu. Shinobi có nghĩa là “tàng hình” và “kiên trì”, Mono có nghĩa là “người”. Nếu nữ giới hành nghề Shinobi thì được gọi là “Kunoichi”.

Nguồn gốc của Ninja

Ninja trở nên nổi tiếng bởi những câu chuyện của chính họ trong thời kỳ Sengoku Jidai hoặc Chiến Quốc kéo dài chừng 100 năm lịch sử Nhật Bản. Trong thời gian này, chính phủ Trung ương Nhật Bản đã tan rã và các lãnh chúa trong cả nước bắt đầu chiến đấu để tìm kiếm đất đai, tài nguyên và quyền lực. Ninja phục vụ như là một lực lượng không đối xứng với các Samurai của quân đội và đội quân nông dân. Họ sở hữu kỹ năng do thám, ám sát, và truyền bá các thông tin sai lệch.

ninja 9 e1626615919185

Nguồn gốc của Ninja Nhật có thể được tìm thấy trong “Yama bushi” (nghĩa là “chiến binh núi”) và đúng như tên gọi, Yama bushi không phải là những chiến binh thực sự. Họ là một tay sai của các linh mục sống trên núi và thờ phụng tự nhiên bằng cách tách biệt hoàn toàn khỏi nền văn minh. Nói cách khác, họ là những người sống sót. Yama bushi phổ biến hơn ở địa hình núi non hiểm trở của vùng Iga và Koka. Các Ninja đầu tiên sẽ được Yama bushi huấn luyện về kỹ thuật sống sót và sẽ thực hành những lời dạy đó cho hoạt động gián điệp và ám sát.

Để hiểu tại sao Ninja được hình thành trước tiên ở nơi đây thì người ta phải hiểu xã hội Nhật Bản vào thời đó. Samurai thuộc tầng lớp cai trị. Họ là đỉnh của kim tự tháp văn hóa. Chúng ta có những khái niệm rất hoang đường về Samurai ngày nay, nhưng cuộc sống hàng ngày dưới một chúa Samurai khiến họ không vui. Các quy tắc khắt khe về danh dự và cách đối xử với lòng trắc ẩn được giới hạn ở các Samurai khác. Mặt khác, cũng giống như nông dân họ được coi không bằng các con vật nuôi. Samurai được phép giết, hiếp dâm và bán thịt mà không bị trừng phạt.

ninja 8

Hai nhóm nông dân quyết định rằng họ muốn tiếp tục cuộc sống như vậy, vì vậy họ đã tách ra và thành lập các xã hội nhỏ của riêng họ. Hai ngôi làng: Iga và Koka, mà ở đó thiết lập một xã hội dân chủ. Họ biết rằng họ sẽ bị tấn công bởi các lãnh chúa khác xung quanh. Do đó, họ thành lập làng mạc ở những khu vực miền núi với rất nhiều lợi thế phòng thủ. Tự biết rằng họ sẽ không bao giờ có thể đứng trên với các đội quân Samurai lớn mạnh và được huấn luyện tinh nhuệ, họ được học từ Yama bushi và thành lập Ninja.

Địa vị của Ninja trong xã hội phong kiến Nhật Bản

Nước Nhật thời phong kiến có hai kiểu chiến binh là Samurai và Ninja. Samurai được coi là lực lượng binh lính thuộc hội quý tộc, được trọng dụng và ngưỡng mộ. Trong khi đó, Ninja lại có địa vị thấp hơn. Họ thường xuất thân từ những gia đình dân thường và làm lính đánh thuê cho các Samurai. Ninja cũng có thể là các cựu Samurai gặp phải biến cố hoặc bị tước đoạt danh hiệu.

Nhiệm vụ chính của Ninja

Hẳn nhiều người lầm tưởng rằng Ninja có nhiệm vụ là ám sát, tấn công theo lệnh của tổ chức, nhưng thực ra công việc chính của họ là thu thập thông tin. Ninja luôn do thám và nắm bắt các tin tức bí mật của phe đối thủ, một khi bị phát hiện thì sẽ lập tức đánh bài chuồn.​ Các Ninja tập luyện theo phái võ thuật Ninjutsu với slogan là “Tẩu thoát khi có thể” nếu không được thì mới lựa chọn hạ sách là ám sát đối phương. Họ được chỉ dạy, học võ thuật để tìm cách thoát khỏi nguy hiểm, bảo vệ chính mình và chỉ tấn công khi bị bại lộ. Tuy nhiên, sau này thì Ninja không chỉ làm mỗi nhiệm vụ mật thám nữa mà còn kiêm thêm cả nghề vệ sĩ, gián điệp hay ám sát thuê.

ninja 7 e1626615716505

Đối với Kunoichi (Ninja nữ), theo các ghi chép lịch sử, họ không tham gia vào các nhiệm vụ gián điệp hay chiến đấu. Vai trò chính của họ là tiếp cận kẻ thù dưới mặt nạ của những người giúp việc hợp pháp. Sau đó, họ khai thác thông tin bí mật từ các cuộc trò chuyện bình thường với một người giúp việc khác hay những người làm công cho kẻ thù. Các nhà sử học cho hay mọi người thường không đề phòng phụ nữ nên các Kunoichi đã tận dụng lợi thế này.

Về nguyên tắc, công việc của Kunoichi là hỗ trợ cho các Ninja nam, đôi khi họ hoạt động độc lập và sử dụng vũ khí. Thậm chí, Kunoichi phải ngủ với kẻ thù và cố gắng khai thác những bí mật. Sau đó, họ có thể kiểm soát đối phương bằng tình dục. Vì thế, các ông chủ thường lựa chọn những cô gái xinh đẹp trong lứa tuổi trăng tròn để đào tạo thành Kunoichi. Nhiều chuyên gia khẳng định chiến thuật “bẫy mật ngọt” này không phải là mới vì nó tồn tại trong bất kỳ thời đại nào.

Ninja thường mặc màu đen?

Chúng ta luôn thấy Ninja xuất hiện trong một bộ đồ đen kín, giấu mặt, cho rằng màu áo này sẽ thuận tiện khi di chuyển trong đêm tối. Tuy nhiên, trang phục thực sự Ninja sử dụng là màu nâu sẫm. Màu đen bắt đầu phổ biến vào thời Edo, khi kịch Kabuko phát triển, và các Ninja trong những vở kịch này thường được miêu tả là mặc đồ đen.

Ngoài ra, Ninja còn có thể sử dụng màu xanh đậm, xanh lá cây, trắng (vào ngày trời tuyết), dù là màu sắc gì thì ưu tiên của họ vẫn là thuận tiện hoạt động.

Thủ thuật tấn công và vũ khí của Ninja

Ninjutsu có nghĩa “nghệ thuật của sự ẩn nấp và kiên nhẫn”, tuy nhiên Ninja không chỉ sử dụng những ngón đòn đột nhập, ẩn nấp và ám sát. Họ được đào tạo như một chiến binh, thậm chí có nguồn gốc từ Samurai.

Ninja không thiên về chiến đấu, vì họ cần bí mật và trốn thoát thành công mới là chiến thắng. Họ sẽ có những đòn đánh hiểm để phục vụ mục đích chạy trốn này, và nếu bị bắt, họ buộc phải tự kết liễu bản thân để không làm lộ thông tin.

Cũng giống như điệp viên ở phương Tây, các Ninja khi làm nhiệm vụ thường được trang bị mọi loại vũ khí lợi hại. Chúng ta thường được nghe kể về việc Ninja có thể bắt kiếm bằng tay không, tàng hình và thoắt ẩn thoắt hiện một cách thần kỳ. ​​Nhưng sự thật là Ninja không có khả năng xuất quỷ nhập thần như vậy mà họ được hỗ trợ bởi những trang thiết bị như: bom khói, cát khô để tẩu thoát trước mặt đối thủ, đánh lừa thị giác để kẻ địch mất cảnh giác rồi tìm cơ hội thoát thân.

ninja 2a

Ninja thường tránh việc chém giết và phản công bằng những vũ khí như kiếm ngắn Ninjato và phi tiêu Shuriken.​​ Trong thực tế, các nhà sử học tin rằng khi làm nhiệm vụ, Ninja sẽ mang theo 2 loại vũ khí này cùng với một sợi xích Manriki, lưỡi hái Kusarigama, tùy vào nhiệm vụ. Các vũ khí này đều có ưu điểm là có thể được giấu kín, nhưng cũng lấy ra nhanh chóng được.

ninja 5 e1626615177983

Nói về thuật di chuyển trên mặt nước, bí mật chính là ở các đôi giày của họ: các đôi giày da bơm đầy khí. Từ những kiến thức đã nhọc công luyện tập để có thể tạo thế thăng bằng trên mặt nước cùng đôi giày “có phép” này, trong mắt người thường, Ninja có thể di chuyển trên mặt nước nhẹ như không. Về thuật ẩn dưới nước (độn thủy), thực chất, các Ninja đã sử dụng các ống sậy rỗng làm ống thở. Ngoài ra, với các nhiệm vụ đòi hỏi sự bí mật cao, họ thở dưới nước bằng một túi da chứa đầy khí. Còn bí mật về thuật tàng hình của Ninja không ở đâu khác chính là ở cách sử dụng các loại bom khói. Khi gặp tình huống nguy cấp, họ tung các loại mù này vào đối phương và sử dụng khả năng di chuyển nhanh nhẹn của mình để “tàng hình”.

ninja 3a

Về kỹ năng bay của Ninja, nhiều người nhìn từ xa trong bóng tối ngỡ rằng các Ninja huyền thoại có thể bay nhưng thực chất, với khả năng chạy, leo trèo nhẹ nhàng, thoăn thoắt, các Ninja có thể nhảy từ vị trí rất cao. Thêm nữa, việc sử dụng một loại dù nhỏ cùng màu với không gian hoạt động (như dù màu đen trùng với màn đêm) khi nhảy cũng khiến cho nhiều người hiểu lầm là họ có thể bay. Về thuật độn thổ, đây là thuật cần sự hỗ trợ của thuật tàng hình.

ninja 6

Sau khi sử dụng bom khói, các Ninja sẽ nhanh chóng thay đổi y phục để ngụy trang với không gian hoạt động. Giả sử, nếu muốn độn thổ ở trong rừng, các Ninja sẽ sử dụng các bộ đồ màu đất hoặc trùng với màu xanh của cây rừng. Với khả năng nín thở siêu việt cùng sự di chuyển nhanh nhẹn, họ có thể đột nhiên “biến mất” trước mắt đối phương.

Để thực hiện được những chiến thuật cực kỳ khó này, các Ninja không chỉ cần đến những bộ quần áo ngụy trang, sự di chuyển nhẹ nhàng, họ còn cần đến đầu óc phán đoán nhanh nhạy và bản lĩnh chế áp đối phương.

Để đo được thời gian mà không có đồng hồ, Ninja sử dụng Nekome – một thủ thuật xác định thời gian bằng cách nhìn vào mắt mèo. Buổi sáng, đồng tử mèo là một hình tròn, từ 8h đến trưa, đồng tử hẹp dần và trưa thì chỉ còn là một vạch thẳng. Tuy nhiên, cách này có nghĩa các Ninja phải mang theo hoặc tìm kiếm một chú mèo trong lúc làm nhiệm vụ chăng?

ninja 4 e1626615075415

Ninja là một trong những nét văn hóa thú vị của Nhật Bản và hoàn toàn độc nhất vô nhị. Mặc dù trong lịch sử, nghệ thuật do thám, ám sát được phát triển khắp thế giới, nhưng Ninja vẫn là hình thức nổi tiếng và hiệu quả nhất.

Ninja xuất hiện thường xuyên trong phim ảnh, sách, truyện tranh, game. Mặc dù trong các sản phẩm hư cấu này, họ có vẻ “thần thánh” hơn. Nhưng so sánh với Ninja trong lịch sử Nhật Bản, họ cũng đã vốn là những nhân vật phi thường.

Ngày nay, Nhật Bản vẫn còn tồn tại hai Ninja cuối cùng

Ông Jinichi Kawakami – hậu duệ cuối cùng sở hữu những tuyệt kỹ của gia tộc Nhẫn Giả Ban Clan. Ông chia sẻ rằng: “Ở giai đoạn Edo, Ninja rất được trọng dụng. Họ có thể làm gián điệp, ám sát hay chế tạo thuốc”. “Nhưng hiện tại, chúng ta có súng, Internet và nhiều loại thuốc tốt hơn, do đó, nghệ thuật ninjutsu không còn chỗ trong thế giới này”, vì thế ông đã chọn nghề cơ khí để trang trải cho mọi chi phí sinh hoạt hằng ngày.

Tiếp đó là Masaaki Hatsumi 80 tuổi, cho biết ông là thủ lĩnh của Togakure, một gia tộc Ninja khác vẫn đang tồn tại. Ông là người sáng lập ra môn võ thuật quốc tế mang tên Bujincan.

ninja 1

Tuy còn sống, và sở hữu những bí kiếp võ thuật, nhưng hai vị Ninjutsu này không có ý định lựa chọn người thừa kế để truyền lại những bí phương võ nghệ này, cũng bởi sự hiện diện của Ninja hay những vũ khí ám sát cổ xưa đã không còn phù hợp với đời sống hiện đại. Không còn tồn tại những mối quan hệ chủ-Samurai,và lính đánh thuê- Ninjutsu, Ninja cũng không còn là những sát thủ bóng đêm như ngày nào. họ quay trở về với cuộc sống thường ngày. Mọi người đều phải kiếm tiền để sống, và Ninja thời nay cũng thế, họ cũng cần phải sống tiếp và sinh hoạt như những người bình thường để trụ vững ở thế giới thời hiện đại – thời đại của thế số và công nghệ được thay thế.

Nhưng họ vẫn là khách mời và cố vấn võ thuật, giảng dạy về các kỹ thuật mà Ninja từng sử dụng tại trường đại học Mie ở tỉnh Mie. Và tất nhiên rằng, Ninja cũng chỉ là người bình thường, họ sống rồi cũng sẽ nhanh chóng trở về lại với đất trời. Vì thế, môn võ này sẽ nhanh chóng bị thất truyền, và nó cũng sẽ chỉ còn được nhắc đến trên phim ảnh, truyện hay sách báo lịch sử..

Nếu có cơ hội, du khách hãy du lịch Nhật Bản thử một lần trải nghiệm đến tỉnh Mie để tận mắt chứng kiến những Ninjutsu huyền thoại và nếu may mắn hơn, có thể giao lưu cùng hai vị Ninja cuối cùng của Nhật Bản nhé!

Aikido 5

Những điều thú vị về môn võ Aikido độc đáo của Nhật Bản

Nhật Bản được biết đến không chỉ với nền văn hóa nhiều màu sắc mà còn là nơi khởi nguồn của những môn võ trứ danh. Trong số đó không thể không nhắc Aikido (Hiệp khí đạo).

Aikido là một bộ môn võ thuật hiện đại có nguồn gốc từ Nhật Bản. Theo nhiều ghi chép sót lại, trong giai đoạn đầu tiên thành lập của môn phái, tên gọi “Aikido” lúc đó là Aiki-Jujutsu. Tên gọi Aikido là hợp nhất của 3 chữ: “Ai” là hài hoà, hòa hợp, yêu thương; “ki” là khí, tinh thần, còn “do” là con đường đi, đạo. Như vậy, có thể hiểu Aikido là môn võ chỉ ra con đường giúp võ sinh hòa hợp với vũ trụ.

Aikido 4 e1626604650768

Môn võ này được tổ sư Morihei Ueshiba (còn được gọi là O Sensei, 1883-1969) phát triển vào đầu thế kỷ 20. Với những am hiểu về nhu thuật (Jujutsu), kiếm thuật và thương thuật, tổ sư Ueshiba đã dành một nửa đời mình để nghiên cứu và phát triển một môn võ thuật mới. Aikido được xem là sự kết hợp giữa những đòn khóa và ném của Nhu thuật (Jujitsu) cùng với những chuyển động cơ thể trong Kiếm thuật (Kenjutsu) và Thương thuật (Sojutsu). Không chỉ tiếp thu tinh hoa của các trường phái khác, tổ sư Ueshiba còn thêm cả những kỹ thuật mới do chính ông tạo ra vào trong Aikido.

Theo O-Sensei, Aikido không chỉ là một môn võ dùng để đánh bại kẻ thù mà còn là con đường giúp cải thiện tính cách và nâng cao tinh thần của con người. Ông đã đặt tên môn võ này là “Aikido”, tức là “con đường hợp nhất với năng lượng sống” hoặc “con đường của tinh thần hài hòa”. Hiểu sâu xa hơn, tên môn võ này muốn nhắn nhủ đến Akidoka (người tập Aikido) rằng, hãy yêu thương thế giới và những người sống quanh mình.

Aikido 1

Trong Aikido cũng như hầu hết các môn võ “xứ sở Phù Tang”, luyện tập thể chất và rèn luyện tinh thần luôn song hành. Người tập Aikido không được khuyến khích tấn công hoặc khiêu khích đối thủ trước. Ngược lại, nó tập trung vào việc hóa giải các đòn tấn công của đối thủ thay vì thực hiện các đòn tấn công chủ động. Người tập sẽ được học cách đánh ngã, khóa đối thủ một cách an toàn nhất cho cả hai bên. Các động tác uyển chuyển, hài hòa, dẻo dai, kết hợp với sức mạnh mang lại nhiều lợi ích cho người tập. Về mặt tinh thần, người tập võ Aikido phải nhớ rõ tính “bất tương tranh” của môn võ. Hầu hết các môn võ đều tìm kiếm tuyệt chiêu hạ gục đối phương, nhưng Aikido lại cho rằng chiến thắng nào cũng chỉ là tương đối. Một người giỏi hôm nay chưa chắc đã là người giỏi ngày mai. Người chiến thắng lại thường có nhiều tính xấu như chủ quan, tự mãn… Aikido không tập trung vào việc thắng người mà chủ yếu tập trung vào lợi ích rèn luyện sức khỏe, không đề cao sự huy hoàng của chiến thắng mà đề cao sự hài hòa của con người và vũ trụ, thể hiện triết lý sống cao đẹp của người Nhật Bản.

Aikido 2

Trong Aikido, các kỹ thuật được chia làm 3 phần chính, bao gồm: Nage (kỹ thuật ném), Osae (kỹ thuật giữ và kiểm soát), Kokyu-ho (kỹ thuật thở). Đặc điểm chính của các kỹ thuật này là không tập trung vào tấn công hay sức mạnh mà chủ yếu quan tâm đến độ chính xác và kịp thời khi thực hiện chúng. Trong Aikido vẫn có một số đòn tấn công như Atemi, nhưng chúng lại không được sử dụng với mục đích gây thương tích cho đối thủ. Ngược lại, chúng chỉ được dùng để đánh lạc hướng và giúp Akidoka giành thế chủ động trong trận đánh.

Để luyện tập Aikido, Akidoka sẽ sử dụng các vũ khí bao gồm gậy gỗ ngắn (Jo), kiếm gỗ (Bokken), dao (Tanto) và một số trường phái sử dụng súng. Môn sinh sẽ được dạy các động tác cướp và kiểm soát vũ khí từ tay đối thủ. Việc luyện tập này sẽ không chỉ giúp đối phó với nhiều tình huống thực chiến mà còn rèn luyện được các kỹ thuật về di chuyển, cảm nhận về khoảng cách, thời gian trong không gian sao cho hợp lý nhất.

Aikido 3

Trang phục cũng là thứ không thể thiếu khi tập Aikido. Đồng phục Aikido (Dogi hoặc Keikogi) có tay áo và ống quần hơi ngắn, cho phép người tập di chuyển cũng như thực hiện các động tác bắt và quật đối thủ một cách dễ dàng. Ngoài ra, một loại trang phục khác có tên là Hakama cũng có thể được mặc khi tập Aikido. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể mặc Hakama. Loại trang phục này chỉ dành cho những Aikidokan đai đen.

Về cấp độ của các môn sinh trong hiệp khí đạo, sẽ được phân biệt bởi dây đai trên trang phục. Theo đó, người tập được chia làm 2 hạng là “cấp” (Kyu) và “đẳng” (Dan), tương ứng với hai màu đai là trắng và đen. Thông thường, võ Aikido sẽ có 6 cấp và 3 đẳng. Sau đây là những cấp bậc trong Aikido theo thứ tự từ sơ cấp để cao cấp: Kyu thứ 6 (Rokukyu) – đai trắng, Kyu thứ 5 (Gokyu) – đai trắng, Kyu thứ 4 (Yonkyu) – đai trắng, Kyu thứ 3 (Sankyu) – đai trắng, Kyu thứ 2 (Nikyu) – đai trắng, Đệ nhất Kyu (Ikkyu) – đai trắng, Sơ đẳng (Shodan) – đai đen, Nhị đẳng (Nidan) – đai đen, Tam đẳng (Sandan) – đai đen. Mỗi cấp bậc cụ thể sẽ có những bài kiểm tra năng lực khác nhau.

Trên đây là một số thông tin về Aikido Nhật Bản. Qua bài viết, hi vọng giúp du khách biết nhiều hơn về môn võ thuật truyền thống Aikido và những nét văn hóa truyền thống của “xứ Phù Tang”. Nếu du khách muốn khám phá nhiều hơn, hãy thực hiện ngay một chuyến du lịch Nhật Bản nhé!

judo 9

Judo – bộ môn võ thuật nổi tiếng ở Nhật Bản

Judo (hay: Nhu đạo) là một trong những bộ môn võ thuật nổi tiếng ở Nhật Bản. Với các đòn đánh dứt khoát có thể hạ gục đối thủ nhanh chóng, việc luyện tập Judo giúp người học có thể tự vệ, rèn luyện thể lực cũng như xây dựng tinh thần thượng võ cho bản thân.

Judo được dạy khắp mọi nơi trên đất nước Nhật Bản. Đây không chỉ là bộ môn võ thuật rèn luyện khả năng tự vệ mà còn là một hình thức nghệ thuật, hoạt động thể thao rèn luyện sức khỏe và tinh thần cho con người Nhật Bản nói riêng và của cả những người đang theo học bộ môn võ thuật này nói chung.

Japanese kodokan Judo là một trong những trường phái nổi tiếng và phổ biến nhất của bộ môn võ thuật Judo Nhật Bản.

Lịch sử Judo

Rất khó để xác định chính xác nguồn gốc của Judo nhưng về cơ bản võ thuật được sinh ra trong xã hội Samurai, và Judo là một trong số đó.

judo 2

Ngày xưa, giới võ sĩ Sumuari phải thường xuyên rèn luyện sức khỏe để tham gia chiến trận và bảo vệ lâu đài, lãnh thổ của lãnh chúa. Võ thuật là lựa chọn hàng đầu để tăng cường sức mạnh và sự dẻo dai của các võ sĩ Samurai. Trong đó, phổ biến nhất là môn võ hay còn gọi là “Nhu thuật” (Jūjitsu – môn võ chiến đấu với những đòn như bẻ tay, bẻ cổ,…).

Đến thời Edo, Nhu thuật được phát triển mạnh mẽ, trở thành một môn võ có hệ thống và được nhiều người theo học. Cùng với sự phát triển này, các võ sư cũng đã sáng tạo ra nhiều đòn đánh mới. Tuy nhiên, đến thời Minh Trị, thế kỷ XIX, Nhật Bản bước vào công cuộc hiện đại hóa, tăng cường tiếp cận văn minh phương Tây. Đây là lúc tầng lớp Samurai suy yếu, Nhu thuật bị thất sủng vì nhiều người cho rằng, môn võ này đầy tính bạo lực và nguy hiểm.

judo 1

Về sau, các yếu tố nguy hiểm trong Nhu đạo được loại trừ để cho ra đời môn võ Judo và cũng vào thời điểm đó, thế giới võ thuật Nhật Bản chứng kiến sự ra đời của một môn võ mới thay thế Nhu thuật – môn võ Judo. Người sáng lập ra môn võ này là Kano Jigoro (1860-1938). Ông đã sáng lập ra Judo vào năm 1882 trên nền tảng môn võ cổ truyền Jūjitsu (Nhu thuật).

Môn Judo không dùng binh khí mà các đòn tấn công chủ yếu là quật ngã, đè, siết cổ và khóa tay, chân. Các đòn chém và đâm dùng bàn tay và bàn chân cũng như vũ khí phòng thủ là một phần của Judo, nhưng chỉ trong các hình thức sắp xếp trước (Kata) và không được phép trong các cuộc thi Judo hoặc tập luyện (Randori). Một học viên Judo được gọi là một Judoka.

Judo là bộ môn thể thao thể hiện tính năng động và mạnh mẽ

Được xem là một trong những bộ môn thể thao thể hiện sức mạnh và tính kỷ luật cao trong quá trình luyện tập cũng như thi đấu nên Judo tượng trưng cho sức mạnh cũng như tinh thần thép của những người tập võ.

judo 3

Bộ môn võ thuật Judo có các động tác luyện tập có thể giúp người học quật ngã đối thủ, ghìm và khống chế các khớp chi của đối thủ một cách dễ dàng nhất.

Các đòn thế trong nhu đạo Judo

Trong Judo, người ta chia ra nhiều nhóm đòn, trong đó có hai nhóm đòn chính là “Katame waza” và “Nage waza”.

Katame waza là kỹ thuật khống chế/khoá siết khiến cơ thể đối phương không thể động đậy. Katame waza gồm: Nhóm đòn đè (Osaekomi waza) và Nhóm đòn xiết cổ (Shime waza).

Nage waza là kỹ thuật quật ngã đối phương. Trong trận đấu, võ sĩ giành thắng lợi tuyệt đối với điểm Ippon khi anh ta quật ngã đối phương, khiến lưng đối phương chạm mặt chiếu Tatami bằng một đòn Nage waza có sức mạnh và tốc độ. Có tổng cộng trên 60 đòn đánh thuộc nhóm đòn Nage waza.

judo 4

Trong các đòn ném Nage waza (hay đòn vật, đòn quật) được chia ra thành 2 nhóm: nhóm đòn đứng và nhóm đòn hi sinh. Trong nhóm đòn đứng (Ta’ichi waza) có các bộ đòn: Nhóm đòn chân (Ashi waza), Nhóm đòn hông (Koshi waza), Nhóm đòn tay (Te waza).  Trong nhóm đòn hi sinh (Sutemi waza) có các bộ đòn: Nhóm đòn hi sinh ngã sau (Matsuemi waza), Nhóm đòn hi sinh ngã nghiêng (Yokotsutemi waza).

Đẳng cấp, thứ bậc

Đẳng cấp, thứ bậc trong Judo là tượng trưng cho trình độ kỹ thuật của người luyện tập võ thuật. Xét theo thứ bậc Judo được phân thành 10 cấp bậc, với mỗi cấp bậc sẽ thể hiện bằng màu của đai đeo khác nhau: Cấp 1 trong Judo là đai màu nâu, Cấp 2 trong Judo là đai màu xanh lam, Cấp 3 trong Judo là đai màu xanh lá cây, Cấp 4 trong Judo là đai màu cam, Cấp 5 trong Judo là đai màu vàng, Cấp 6 trong Judo là đai màu trắng. Đây cũng là cấp bậc thấp nhất thường dành cho những ai mới bắt đầu học bộ môn võ thuật này.

Đối với hệ đẳng thì từ 1 đẳng đến 5 đẳng sẽ là đai màu đen có các vạch màu trắng. Từ 6 đẳng đến 8 đẳng sẽ là đai màu đen có các vạch màu đoạn đỏ và trắng. Từ 9 đẳng đến 10 đẳng thì đai sẽ có màu đỏ.

Từ đai vàng đến đai nâu, cuộc thi đấu tổ chức ở phòng tập và do võ sư trực tiếp dạy mình thăng cấp cho. Từ đai nâu đến đai đen võ sĩ phải thi đấu trước một hội đồng có uy tín. Việc thăng đẳng cấp này có quy định về quốc tế.

judo 7

Võ phục

Trong bộ môn Judo võ phục hay còn được gọi với tên gọi là “Judogi” sẽ bao gồm 3 yếu tố chính là quần, áo và đai thắt. Tùy từng cấp bậc luyện tập khác nhau mà người võ sĩ sẽ sử dụng đai thắt có màu sắc khác nhau, chiều dài của đai thắt là khoảng 2,5m. Còn quần áo được quy định là màu trắng – thể hiện sự tinh khiết của tâm hồn võ sĩ. Ngoài ra, để phân biệt giữa hai đối thủ khi thi đấu cho dễ dàng, Liên đoàn Judo Thế giới ban hành thêm màu xanh dương.

Phòng tập Judo

Phòng tập Judo hay còn được gọi là “Dojo”. Thông thường phòng này thường được thiết kế với diện tích rộng rãi, sáng sủa và thường được lót bằng loại chiếu Tatami để giúp các võ sĩ không bị chấn thương khi ngã trong quá trình luyện tập.

Phòng tập Judo thường được thiết kế mang tính trang nghiêm thể hiện đúng tinh thần và khí chất của người luyện tập võ thuật.

Nhu đạo thực chiến thế nào?

​Đặc trưng của võ Judo là các thế ném, quăng, quật, quét, đè, siết cổ, khóa bẻ tay đối thủ. Ngoài ra, Judo còn có các kỹ thuật khác như kỹ thuật tự vệ trong quá trình chiến đấu.

Các trận đấu của Judo diễn ra trên sàn bằng chiếu, hình vuông có bề rộng 9.1m. Phân thắng bại dựa vào số điểm đạt được khi hết thời gian trận đấu, hoặc trong trận đấu, ai có được điểm đầu tiên sẽ thắng.

judo 6 e1626600407539

Đấu thủ sẽ nhận được 1 điểm khi ném ngã đối thủ nằm ngửa hoặc khống chế thành công, buộc đối thủ phải đầu hàng bằng Katame-waza, kìm giữ đối thủ trong 30s bằng thế Osae-waza, siết cổ bằng thế Shime-waza, bẻ khớp khủy tay bằng thế Kansetsu-waza có hiệu quả trong 1 phút.

Một đòn ném đối thủ đẹp mắt đạt được 1 điểm hoặc khống chế đối thủ được hơn 25s bằng thế Katame-waza.

judo 5a

Hai lần ra được đòn có kỹ thuật sẽ giành được 1 điểm. Có hiệu quả là khi ra đòn ném chưa đạt tới mức có kỹ thuật hoặc khi khống chế được đối thủ bằng thế Katame-waza trong 20s. Dù ra được đòn có hiệu quả bao nhiêu lần đi nữa thì vẫn không được tính điểm.

Ngoài ra, còn có trường phái Judo tập trung vào Ne-waza gọi là Kosen Judo (hay Nanatei Jūdō). Luật của trường phái này hoàn toàn khác với Japanese Kodokan Judo.

judo 8 e1626600672216

Mười điều tâm niệm của Judo

Khi tập bộ môn võ thuật Judo, người tập võ phải luôn ghi nhớ và tâm niệm 10 điều: Luôn tôn trọng kỷ luật và nội quy mà bộ môn võ thuật này đặt ra; Luôn tôn trọng thầy, cô giáo và đồng môn của mình, không sử dụng bộ môn võ này để ức hiếp kẻ yếu; Không được sử dụng võ judo để đi thách đấu với bất kỳ ai khác, ngoại trừ các trận thi đấu giao hữu; Luôn có tâm thế bình tĩnh trước mọi vấn đề, dù thắng không kêu, dù bại không nản; Sử dụng Judo để tự vệ trong các tình huống bị người khác tấn công; Không được làm những điều bất công và hèn nhát; Hướng đến mục tiêu cuối cùng của võ thuật là nhân trí dũng.

Nhật Bản vốn được biết đến là một quốc gia giàu bản sắc dân tộc và sở hữu một nền văn hóa mang nhiều nét độc đáo riêng biệt. Đặc biệt trong đó, Võ đạo Nhật Bản nói chung và Nhu đạo nói riêng vẫn giữ được những đặc trưng và tinh hoa vốn có từ thời xưa, trở thành biểu tượng đại diện cho tinh thần và văn hóa “xứ Phù Tang”. Du lịch Nhật Bản sẽ là cơ hội cho du khách khám phá và trải nghiệm với môn võ thuật tinh hoa này.

kyudo 7a

Kyudo (Cung đạo) – Tinh hoa trong võ thuật Nhật Bản

Kyudo là một trong những môn thể thao truyền thống của Nhật Bản. Không những vậy, nó còn là một nghi thức tôn giáo, một bài học tâm linh để tu tập nội tâm. Bởi vậy, với tất cả những ai tìm hiểu và yêu mến văn hóa “xứ Phù Tang”, rèn luyện cung đạo là một trải nghiệm vô cùng đáng giá.

Trong tiếng Nhật, “Kyudo” có nghĩa là “Cung Đạo”, môn thể thao sử dụng cung làm vũ khí và dùng kỹ thuật bắn sao cho trúng mục tiêu phía trước.

kyudo 3

Về nguồn gốc hình thành bộ môn này thì theo ghi chép trong sách cổ, Cung Đạo đã xuất hiện từ thời kỳ Yayoi (khoảng từ năm 500 TCN – năm 300 SCN). Con người khi ấy sử dụng cây cung làm bằng gỗ, hình dạng ngắn từ đáy và dài từ đầu.

Đến thời phong kiến, đặc biệt trong các cuộc chiến tranh, kỹ năng bắn cung càng được các chiến binh Samurai chú trọng khi nó có thể tấn công địch từ khoảng cách xa. Nhu cầu tăng lên, dẫn đến số lượng các trường bắn cung mở cửa cũng tăng lên đáng kể. Tầm quan trọng của cung đạo bắt đầu giảm khi người Bồ Đào Nha đến Nhật Bản và giới thiệu loại vũ khí mới tiện lợi hơn: Súng cầm tay.

Không muốn môn võ thuật truyền thống này bị thoái trào, một nhóm người đã tập hợp lại với hy vọng làm khôi phục và vực dậy nét văn hóa này. Cuối cùng đến năm 1949, Liên đoàn Cung đạo Nhật Bản được thành lập, biến Cung đạo trở thành môn thể thao chính thức có quy củ và hệ thống như bây giờ.

kyudo 1

Khác với những môn thể thao chú trọng vào thể lực, kỹ năng như bóng đá, bóng chày, tennis,… Cung đạo không chỉ thể lực mà còn rèn luyện tinh thần cho người tập. Với những người mới bắt đầu thì họ phải mất từ 2 đến 6 tháng rèn luyện tinh thần, bao gồm thiền và học những nghi thức cơ bản trong Cung đạo. Cách đi đứng, ngồi, chào trong Cung đạo luôn phải tuân theo chuẩn mực nhất định trước khi học 8 trạng thái xả tiễn bằng cung (kỹ thuật bắn Hassetsu). 8 trạng thái này mô tả một Sha (lần bắn), tính từ lúc chuẩn bị tư thế đứng đến lúc bắn xong và trở về vị trí ban đầu. Nó bao gồm: Ashinumi (Đứng theo đường bắn), Doozukuri (Đẩy trọng tâm hơi chuyển về phía trước, cổ thẳng hàng với lưng), Yugamae (Đặt mũi tên vào dây cung và hướng khuôn mặt vào mục tiêu), Uchiokoshi (Từ từ nâng hai tay lên), Hikiwake (Kéo mũi tên theo chiều ngang), Kai (Cố định vị trí mũi tên, nhắm đến mục tiêu phía trước), Hanare (Bắn cung), Zanshin (Khi đã bắn cũng không được mất tập trung). Trong 8 bước này sẽ bao gồm nhiều bước nhỏ và kèm một số kỹ thuật hỗ trợ để quá trình bắn diễn ra thuận lợi. Người bắn phải luôn chú ý làm theo đúng động tác vì cung, tên đều là vũ khí thật, chúng có mức sát thương cao nên nếu tập không đúng kỹ thuật, người tập có thể tự làm bị thương chính mình. Do đó, người mới tập luôn có người hướng dẫn bên cạnh.

kyudo 6 e1626596854855

Cung đạo có đặc điểm là không phân biệt thuận tay trái hay phải. Người bắn luôn cầm cung bằng tay trái, kéo dây cung bằng tay phải ra quá đằng sau tai. Khoảng cách từ vị trí bắn đến bia được nâng dần lên tùy theo trình độ của cung thủ.

Tập luyện các động tác, kỹ thuật bắn cung không phải là quá khó nhưng để bắn “bách phát bách trúng” thì cần có sự kết hợp cả về mặt thể lực và tinh thần. Cung đạo đòi hỏi người tập phải luôn trong trạng thái ổn định, vững vàng (Fudoshin), đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn nại và tính kỷ luật cao.

kyudo 2

Một lần bắn thành công không chỉ là mũi tên cắm chính xác mục tiêu mà còn phải đúng cả về động tác lẫn tư thế. Từng động tác, bước đi nhẹ nhàng mà dứt khoát, chậm rãi mà duyên dáng, kết hợp với cung tên tạo nên một hình thể đẹp. Điều này đã tạo nên nét tinh hoa trong võ thuật Cung đạo Nhật Bản. Vì vậy, ở một số nơi, việc bắn trúng đích không phải là mục tiêu cao nhất của Cung đạo mà cần đạt đến “Chân – Thiện – Mỹ” – trình độ cao nhất trong Cung đạo.

Kyudo phù hợp với cả nam và nữ ở mọi độ tuổi, miễn là với một cây cung có kích thước và cường độ phù hợp. Độ chính xác của Kyudo phụ thuộc vào tư thế và tinh thần người bắn, nên môn này có thể tập luyện trong mọi điều kiện thời tiết cũng như không giới hạn thời gian luyện tập.

Khác với những môn bắn cung thông thường, cây cung (Yumi) trong Kyudo được cấu tạo hết sức đặc biệt. Cây cung có chiều dài trên 2m hoặc hơn, làm từ nhiều chất liệu khác nhau như tre, gỗ hay sợi cacbon tổng hợp. Cánh cung dài mảnh, khối lượng khác nhau tùy thuộc vào thể lực từng người tập. Những cây cung này được nhập hoàn toàn từ Nhật Bản.

kyudo 4

Dụng cụ tiếp theo cần có trong Kyudo là mũi tên. Việc làm ra một mũi tên cũng đòi hỏi sự tỉ mỉ và cần nhiều công đoạn. Mũi tên được làm bằng các vật liệu như tre, gỗ. Để làm thẳng phần thân mũi tên, người ta hơ nóng nó và uốn chỉnh. Mũi tên càng thẳng thì độ chính xác khi được bắn đi càng cao. 3 chiếc lông nằm ở phần đuôi của mũi tên cũng đóng vai trò quan trọng giúp làm ổn định hướng đi của mũi tên. Chiều dài mũi tên sẽ phù hợp với người bắn, thường dài hơn sải tay từ 6 đến 10cm.

kyudo 5 e1626596546890

Ngoài ra, phải kể đến một dụng cụ khác là găng tay (Yugake). Găng tay trong Kyudo được chia thành nhiều loại dựa trên nhiều tiêu chí như năng lực, thói quen, mục đích của người tập. Chẳng hạn nếu người tập quen kéo loại cung có lực kéo từ 20kg trở xuống thì dùng loại găng tay 3 ngón. Nếu lực kéo trên 20kg thì sẽ chọn loại găng tay 4 ngón.

Trang phục thường dùng trong Kyudo là “Hakama”, một loại trang phục truyền thống của Nhật Bản như Kimono. Hakama là loại quần ống rộng, thường có màu đen hoặc trắng, mặc với áo Nagajuban trắng (áo lót kimono).

Nhật Bản vốn được biết đến là một quốc gia giàu bản sắc dân tộc và sở hữu một nền văn hóa mang nhiều nét độc đáo riêng biệt. Đặc biệt trong đó, Võ đạo Nhật Bản nói chung và Cung đạo nói riêng vẫn giữ được những đặc trưng và tinh hoa vốn có từ thời xưa, trở thành biểu tượng đại diện cho tinh thần và văn hóa “xứ Phù Tang”. Du lịch Nhật Bản sẽ là cơ hội cho du khách khám phá và trải nghiệm với nét tinh hoa võ thuật này.